Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2019


TRUYỆN NGẮN

Truyện ngắn
     CÓ KHI NẰM VIỆN LẠI HÓA HAY

     Mấy hôm nay trời nóng như đổ lửa, ngồi trong nhà mà như trong lò bánh mì, nhiệt độ ngoài trời khi đi đường có lẽ lên tới 41 - 42 độ. Cây chuối sau nhà vừa nẩy mấy tầu non nõn trông thật mát mắt, thế mà nắng xém chín cả đi. Đôi chim bồ câu tranh nhau xà vào chậu nước tắm vỗ cánh phành phạch. Cô sinh viên xóm trọ đi học về, dừng xe mặt mày bưng bít tưởng như vừa đi cướp nhà băng về, cô tháo khẩu trang cất tiếng chào, tôi chưa kịp trả lời thì chuông điện thoại reo, tôi gật đầu, xin lỗi. Đầu dây bên kia chị bạn tôi hỏi:
     - Thế nào, ngày mai chú có đi không? Chả là CLB bóng chuyền chúng tôi có dự định tổ chức đi dã ngoại. Nếu mai mà thời tiết cứ như thế này thì chị không đi đâu, bởi mấy hôm nay chị thấy trong người không được khỏe, nó oải oải thế nào ấy.
     - Vâng! Nếu thời tiết thế này thì em cũng ngại chị ơi! Tôi trả lời. Vả lại chị yếu thế thì cũng không nên đi, mà không có chị thì em cũng chẳng đi làm gì, để xem thế nào đã, nếu thời tiết dịu xuống thì cũng nên đi cho vui. Tôi vừa tắt máy điện thoại thì chuông lại reo. Lần này là tin nhắn, tôi đọc thêm vài tin nhắn chưa đọc, trong đó có tin dự báo thời tiết cho hôm nay và ngày mai, khu vực Hà Nội sáng mai có mưa và giông trời mát, nhiệt độ từ 24 – 26 độ. Tôi mừng quá, bấm máy thông báo cho chị biết. thế là chúng tôi quyết định đi.
     Buổi sáng hôm ấy trời đổ mưa như trút nước, tôi thầm nghĩ ông trời có lẽ ủng hộ chúng tôi. Đợi cho ngơn ngớt mưa tôi mới đi, không ngờ trên đường đi mưa càng lúc càng to. Tôi lại nghĩ thật là xui xẻo, có lẽ mưa to và kéo dài như thế này thì sẽ lỡ chuyến đi. Đúng 6 giờ kém 15 phút tôi đã có mặt tại nhà chị như dự định. Đứng trước cửa nhà mà mưa vẫn xối xả, tôi mở máy điện thoại gọi, nhưng chỉ thấy “thuê bao quí khách…”. May mắn tôi đọc được tin nhắn từ lúc 24 giờ đêm hôm trước: “Chị không đi được huyết áp cao”. Tôi định vào nhà nhưng lại ngại, và quyết định quay đầu xe trở về. Trên đường về mưa càng to hơn, còn có cả giông nữa, tôi mặc cho trời cứ mưa, gió cứ giông, mũ áo lật ngược bay tứ tung, người tôi ướt như chuột lột tôi vẫn cứ lầm lũi đi. Có lẽ đây cũng lại là một kỷ niệm khó quên. Đi trong mưa mà tôi miên man nghĩ. Tôi nghĩ đến một lần hai đứa chúng tôi đi sang Kinh Bắc giao lưu thi đấu, Đoàn chúng tôi lại thích đi bằng xe máy để hưởng thụ cái không khí trong lành của đất trời, và chậm rãi ngắm vùng Kinh Bắc. Thật trớ trêu, trên đường đi trời bỗng đổ cơn mưa, một cơn mưa to ghê gớm kéo dài 3 giờ đồng hồ liền không ngớt, chúng tôi buộc phải trú mưa. Một tiếng sét rung trời làm cả hai đứa chúng tôi và mọi người đều sợ, chị và tôi nép chặt vào nhau. Cũng chính sự vô tình ấy đã thành một kỷ niệm sâu sắc. Chị sốt ruột sợ không kịp giờ giao lưu. Tôi thì lại nghĩ khác... Mưa ngớt dần, chúng tôi quyết định mưa cũng đi. Trời vẫn mưa nhưng không to lắm, để tránh ướt áo quần chúng tôi ngồi trên xe như dán vào nhau, mà vẫn thấy áo mưa nhỏ quá. Dòng suy nghĩ cứ miên man miên man, tôi về tới nhà mà không hay. Tôi rùng mình  thấy lạnh, hay lòng mình se lạnh.
     Vừa tắm xong, có tiếng chuông điện thoại, tôi vội vồ lấy nghe. Bên kia đầu dây giọng thều thào bé nhỏ nghe không rõ lắm, nhưng tôi cũng biết được huyết áp chị bạn tôi lên tới 180. Tôi thật sự lo lắng và tan biến ngay cái nỗi buồn vô cớ kia. Bây giờ mới là nỗi buồn thật sự, thế là chị lại ốm rồi, lại phải vào nằm viện. Tôi rất buồn và thương chị lắm, trong lúc huyết áp cao thế mà vẫn tự mình đi đến bệnh viện khám, may mà không xẩy ra chuyện gì. Các con chị đi làm thì đã đành, còn chồng chị? Chồng chị thì lại cho là chuyện bình thường, ông ta còn nói với chị: “Anh cũng thường xuyên tăng huyết áp thế có sao đâu”. Thật nguy hiểm cho một tính mạng con người với những người vô tâm như thế.
      Sau những kết quả xét nghiệm và chiếu chụp, bác sĩ kết luận chị bị nhồi máu não. Tôi thật sự lo lắng cho chị, nhưng ông chồng chị thì lại không hiểu tí nào, hay cố tình không hiểu, nên tôi càng buồn hơn. Muốn giúp chị nhưng lực bất tòng tâm, tôi chỉ còn có cách an ủi. Tôi biết chị là người tình cảm, hay cả nghĩ, với căn bệnh như thế này càng suy nghĩ lại càng tăng bệnh. Cái gì đến sẽ đến, chúng tôi lại mỉm cười. Chị may mắn gặp thày gặp thuốc căn bệnh đã qua nhanh. Hằng ngày tôi sớm tối điện thoại hỏi han động viên, nên tôi cũng biết được ít nhiều. Cô con dâu mặc dù sáng ra phải lo cho con đi học, rồi đi làm công sở, việc này việc kia cũng nhiều vất vả. Nhưng ông chồng là tỷ phú của thời gian thì lại thờ ơ, chỉ thích vui thú những canh bạc đỏ đen, chứng khoán được thua. Chị chia sẻ những câu rất buồn: “Chị chỉ thích nằm viện như thế này”. Ai mà muốn nằm viện, có là dở hơi. Có lẽ khi ở nhà chị còn buồn hơn khi phải sống với một người chồng có trái tim lạnh như vậy. Một người chồng chỉ biết hưởng thụ. Chắc anh ta khi vợ nằm viện thì khổ lắm, khó khăn lắm, bởi thiếu vắng một bàn tay phụ nữ, người “nâng khăn sửa túi” kia mà.
     Hơn một tuần lễ nằm trong phòng lạnh, một buổi sớm mai muốn thở chút không khí ngoài trời, chị hé cửa sổ nhìn ra, chợt nghe thấy tiếng chim hót trong trẻo, tiếng lá rơi xào xạc. Chị bước ra ngoài, mới sớm ra mà trời đã nóng như đổ lửa, thấy người chếnh choáng chị quay về phòng. Cả phòng có 3 giường, hôm nay thêm một bệnh nhân nữa. Gường bên kia  là một cậu thanh niên khá đẹp trai, đôi môi lúc nào cũng đỏ au như con gái, mặt còn hồng hồng nữa. Cậu ta là một hướng dẫn viên du lịch, cũng bị bệnh tăng huyết áp. Những lúc khỏe cậu ta giới thiệu những khu du lịch của non sông đất nước mình, cậu ấy có giọng nói xứ Nghệ dạ dạ, thưa thưa rất ngọt ngào, rất truyền cảm mọi người nghe mà cứ như đang được đặt chân tới khu du lịch ấy. Chị bạn bệnh nhân mới vào, vừa ngước nhìn chiếc đồng hồ thì đã thấy ông chồng mang cơm vào. Anh nhanh nhảu chào mọi người, và cười , nét cười rất tươi còn có chút gì rất duyên nữa. Bà vợ nhìn thấy chồng chỉ nhếch mép cười nhạt. Anh ta nói với vợ :
     - Anh nấu canh cua với mồng tơi đây này, ngọt lắm em ăn đi cho nóng. Em đừng lo, cứ an tâm điều trị, ở nhà mọi việc anh lo chu toàn hết. Chị vợ vẫn lầm lì không nói. Sau này mới biết chị ấy bị bệnh trầm cảm. Chả bù cho ông chồng vừa nhìn vợ ăn vừa kể chuyện tiếu lâm vui đáo để, mặt tươi hơn hớn như một bông hoa mới nở. Đã đến giờ nghỉ trưa, chỉ còn nghe những tiếng thở đều đều. Chiếc đồng hồ treo tường tí tách nghe rõ mồn một, hai kim đã chập một, 12 giờ đúng, sau đó là tiếng thở dài của chị buông thõng. Cũng là vô tình, chị vui hẳn lên khi thấy anh em trong CLB bóng chuyền tới thăm, và đức ông chồng giờ này mới mang cơm cho vợ. Chúng tôi vừa nói chuyện vừa ngắm chị ăn cơm. Dường như chị đói, chị mở ngay nắp cặp lồng, mời chào chúng tôi, vừa ăn vừa nói chuyện. Có lẽ không hợp khẩu vị, hay vì cơ thể còn mệt chị không muốn ăn. Đôi mắt chị đượm buồn, chiếc nắp cặp lồng từ từ được đậy lại. Ông bạn tôi an ủi chị:
     - Cô cố ăn đi cho mau khỏe. CLB thiếu cô là mất vui đấy, mà cô lại là cầu thủ cứng của đội nữa. Tháng sau lại phải đi đấu giao lưu với Sơn Tây nữa đấy.
     - Chốc nữa em ăn, miệng em đắng lắm! Chị trả lời.
      Ông chồng chắc hiểu ý vợ, xách cặp lồng cơm về, dáng đi cung cúc, người lao về phía trước, hai chân khuệnh ra. Chắc hẳn hôm nay cô con dâu bận gì nên phải đích thân mua cơm cho vợ. Tại sao không nấu cho ngon nhỉ? Hay chắc ông ta chỉ quen được vợ chăm sóc, nên việc này vụng về là đúng rồi. Ông bạn tôi bóc quả cam, và lấy hộp sữa tươi không đường cho chị ăn, nhìn chị ăn ngon lành, mà lòng tôi thấy vui vui.
     Sau đợt nắng nóng ác liệt này, trời đã đổ mấy trận mưa rào nên không khí cũng bớt phần oi bức. Chị cũng đã đỡ hơn nhiều. Tôi khuyên chị nên ra viện để tiếp xúc với thiên nhiên cho mau khỏe, vả lại cứ mỗi ngày tính tiền giường, tiền thuốc, tiền nọ tiền kia lên tới 1.800.000đ thì tiền núi cũng hết, thực sự tôi quá sốt ruột. Thế cũng đã trên dưới nửa tháng rồi. Nhìn mặt chị thần ra chừng như không muốn về với bốn bức tường kia. Chị nói đùa: “Có khi nằm viện lại hóa hay”.  

                                                               Hà Nội ngày 30 / 5 / 2015  
                                                                         Nghiêm Thản




MỘT CĂN BỆNH QUÁI ÁC

     Tùng đang trầm tư suy nghĩ về nhân tình thế thái từ các chiều đại Đinh Lê Lý Trần Lê cho đến thời mình đang sống, thì có tiếng chuông điện thoại reo. Cô bạn gái gọi. Tùng nhấc máy:
     – Anh nghe đây, có việc gì đấy em? Bên kia đầu giây Hà thao thao kể những chuyện mới với Tùng giọng rất vui và cởi mở. Chả là tất cả những tâm sự đầy vơi Hà đều chia sẻ với Tùng tất cả, không giấu một điều gì, chính vì vậy mà hai người càng ngày càng thân thiết, và quí nhau hơn. Hà là người đàn bà rất ưa nhìn, có nét đẹp duyên dáng, với nụ cười đẹp đến mê hồn, các bạn trai của Hà nói vui với nhau là “cái cười chết người”, khiến giới mày râu không thể bỏ qua được, mặc dù tuổi đã xế chiều. Với ánh mắt đượm buồn mặc dù chỉ thoáng qua nhưng mọi người vẫn nhận ra được. Vừa vui đấy, Hà lại hạ giọng, qua giọng nói trầm buồn Hà nói:
     - Anh ơi! Ừ anh đang nghe đây - Tùng trả lời:
     - Hôm nay em lại phải gặp bọn nó rồi!
     - Tốt rồi! Tùng an ủi. Đây là cơ hội để em xúc tiến tới mối “quan hệ” của bọn tham quan cho được việc. Nguyễn Trãi đã từng nói: “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” thì với mình sống trong xã hội này muốn được việc mình cũng phải biết yên cán bộ chứ. Gió chiều nào ta che chiều đó em ạ.
     Một buổi sáng đầu năm đẹp trời. gió hiu hiu mát, hai người đèo nhau đi chầm chậm như dạo chơi trên đường phố, nắng hơi gắt hắt lên khuôn mặt phúc hậu của Hà, đôi má ửng hồng lên càng tăng thêm vẻ đẹp duyên dáng. Đôi bàn tay thon như búp măng, chỉ nhìn đôi bàn tay thôi thì ai cũng lầm là con gái. Nhưng vẫn không dấu được vẻ đượm buồn qua ánh mắt. Tùng đưa Hà đến gặp một bà bác sĩ để mua nghệ đen về chữa bệnh đau dạ dày, nghe nói thứ nghệ đen này được mang từ trên núi về tốt lắm. Thôi thì có bệnh thì vái tứ phương vậy, biết làm thế nào được - Tùng thầm nghĩ. Không găp được bà bác sĩ, quay về, hai người rẽ vào nghỉ chân nơi một quán nước ven đường. Tùng ngồi đối diện với Hà, nhìn ánh mắt buồn buồn trên khuôn mặt kiều diễm của bạn mình hiện lên như có cái gì khắc khổ, lo lắng một điều gì, khiến Tùng thấy thấy trạnh lòng. Hà nhìn bề ngoài ai cũng nghĩ là rất khoẻ mạnh, bởi với thân hình cân đối vạm vỡ, đầy đặn, căng đầy sức sống, chắc như con gấu, với bộ váy rằn ri trông như nữ sĩ quan Mỹ. Nhưng trong người thì đầy bệnh tật, có khi chồng con cũng không biết, mỗi tháng phải tiêu tới hơn chục triệu tiền thuốc, nghe mà sốt cả ruột. Chồng con thì nhiều tiền nhưng Hà không muốn phiền hà, lại vào viện ra viện liên tục. Còn cái bệnh “Rối loạn thần kinh thực vật” nó hoành hành đáng sợ luôn. Bệnh “Rối loạn thần kinh thực” là một bệnh không gây chết người, nhưng cũng gây khá phiền phức. Phần chủ giao cảm và phó giao cảm không hài hoà với nhau, chủ đạo thần kinh điều khiển các cơ quan chức năng mất chính xác. Thí dụ đang vui lại buồn vô cớ, không có cái gì gây đau bụng cũng thấy đau bụng, có thể làm sai lệch sự suy nghĩ, cáu bẳn vô cớ, như trống đánh xuôi kèn thổi ngược vậy… Chỉ có Tùng là hiểu vì hai người hay tri kỷ với nhau nên Tùng rất thương Hà. Đang trầm tư suy nghĩ miên man thì Hà hỏi làm Tùng giật mình:
     - Ơ kìa anh đang nghĩ gì thế? Anh uống nước đi chứ - Hà nói. Anh châm thuốc mà không hút à? Cháy gần hết rồi kia kìa
     - Ờ… ờ… không…không… Anh đang nghĩ về em - Tùng nói. Khổ cho em bệnh tật thì nhiều, mà vẫn phấn đấu về đường công danh. Nghĩ cũng phải, cả cuộc đời làm việc lăn lộn gần như một mình nuôi con cho đến lúc nghỉ hưu, con người cứ thui chột dần đi. Bây giờ lại lao vào sự nghiệp văn chương, để gửi gắm những buồn vui ưu tư phiền muộn vào đó, để giải toả nỗi lòng. Và cũng muốn đánh giá được sự phấn đấu của mình trên con đường văn chương chữ nghĩa. Người ta được đào tạo trong ngành văn chương thì đã đành, đi vào con đường văn chương Hà lại trái nghành trái nghề. Năm ngoái Hà tưởng ăn chắc được vào Hội thế mà vẫn bật ra, không phải vì chất lượng của bài viết và tác phẩm, thơ của Hà hay mọi người rất thích đọc, Hà chủ yếu viết về những người phụ nữ xấu số qua tình cảm vợ chồng, không biết Hà viết cho Hà hay viết hộ cho người khác, nhưng đọc mủi lòng lắm. Vì thế nên lí do chủ yếu là cách “quan hệ” chưa đúng cửa. Tùng an ủi:
    - Thôi em à! Chẳng qua là mình chưa may mắn thôi, vả lại bọn tham quan này chúng lắm trò lắm, có voi đòi tiên, mệt mỏi lắm, là phụ nữ càng xinh đẹp như em lại càng khó. Thôi đành đâm lao thì phải theo lao vậy. Rất có thể chúng nó giở trò khốn nạn khi đã lừa được mình trèo lên lưng cọp, nghĩa là ăn khá nhiều tiền rồi vẫn cứ lờ đi để rử mồi. Vậy nên mình phải đặt tình huống xấu nếu xảy ra, và phải đặt sẵn những phương án, phải khôn khéo để thoát nạn, không thì đến lúc ấy lại bảo là không ngờ và không ngờ... Cùng lắm thì thí cho chó cũng không sao, tuổi đã xế chiều còn cái gì nữa mà mất, vì đây không thuộc phạm trù đạo đức, với anh rất thông cảm cho em. Mới nói đến đây Hà không không chịu nổi, bật lên mắng Tùng té tát, Tùng như bất chợt bị dội nước lạnh vào mặt. Nó được thoả mãn rồi sau này nó đi khoe với mọi người thì sao. Tùng thấy Hà nói đúng, và nói lảng sang chuyện khác.
     Được giúp bạn, Tùng cảm thấy đó là niềm hạnh phúc. Tùng và Hà rất thân nhau, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi, cùng giúp đỡ nhau những lúc khó khăn trong cuộc sống, đọc cho nhau nghe những tác phẩm mới… Những buổi đẹp trời hai người đi dã ngoại chụp ảnh cho nhau. Đi giao lưu thơ với các clb khác, hai người đều đi với nhau. Thậm chí thiếu một người thì người kia không đi nữa. Tùng và Hà có biết bao những kỷ niệm buồn vui với nhau không bao giờ có thể quên được. Hằng ngày hai người gọi điện cho nhau để chia sẻ những đầy vơi.
     Tùng là một người rất thông minh, đa tài và nhạy cảm, linh tính của Tùng như có cái gì không ổn từ mấy ngày trước nên trong lòng luôn bất an, thậm trí trong đường đi nước bước Tùng đều rất cẩn trọng, sợ điều không lành xẩy ra. Chuông điện thoại réo, Tùng mừng lắm, hình như Tùng biết trước được điện của bạn mình, nhưng móc mãi mới được máy ra. Tùng gọi ngược lại:
     - A lô anh đây em!
     - Anh làm gì mà mãi không nghe máy thế? - đầu bên kia Hà nói như gắt gỏng. Tùng suy đoán lại có điều gì bất ổn đây, thường thì những lúc như thế này Hà hay trút bực tức lên đầu Tùng một cách vô cớ, nhưng bao giờ Tùng cũng mềm mỏng vì Tùng là con người của tình cảm nên rất yếu đuối. Vẫn giọng nói bực dọc:
     - Anh có nghe không đấy?
     - Có! Anh đang nghe mà! Tùng đáp. Sóng yếu quá có một vạch thôi .
     - Ngày mai anh đèo em đi thăm hội viên ốm, nhưng tới bệnh viện anh đứng ngoài không nên vào. Tùng ngẩn người ra không hiểu Hà nghĩ gì! Và nói cái gì nữa. Hà  là chủ nhiệm Tùng là phó, vả lại cả ba người cũng thân thiết với nhau có gì xa lạ, họ vẫn thường tổ chức đi chơi dã ngoại với nhau. Mà thăm người ốm là cái tâm của mình thì có làm sao. Tùng hỏi lại:
     - Thăm hội viên ốm, mà nó là bạn bè thân thiết với chúng mình thì có làm sao mà anh phải đứng ngoài, vắng em anh cũng đến thăm nó được kia mà, vừa là trách nhiệm của clb vừa là tình cảm riêng thì anh cũng muốn vào thăm bạn bè thì có sao, đâu như hôm anh đưa em đi gặp bọn tham quan để giải quyết mọi “quan hệ” mà anh phải chờ ở ngoài hàng mấy giờ đồng hồ. Như lần trước hồi đầu năm, Hà lập tức sửng cồ lên với Tùng rồi chửi bới lung tung, cho Tùng là buộc tội vu khống cho bọn tham quan và xúc phạm danh dự của Hà, mắng Tùng lúc nào cũng nghi ngờ nọ kia… Tùng cũng thấy choáng vì Bố Tùng thì hy sinh rồi, còn mẹ nuôi Tùng từ bé đến lớn chưa bao giờ chửi Tùng một câu nào, thương Tung mồ côi mồ cút. Chưa hết, Hà lại còn xúc phạm đến vợ Tùng nữa. Thế là cuộc cãi vã xẩy ra trên điện thoại. Tùng rất buồn, nhưng Tùng vẫn nghĩ có lẽ do cái căn bệnh gọi là “Rối loạn thần kinh thực vật” đã lái sự suy nghĩ của Hà sang một hướng khác mà Hà không biết được. Rất bình tĩnh. Lúc này buộc Tùng buộc phải giải thích với những chứng cứ chính Hà nói ra, may ra Hà hạ hoả:
     - Em thật bình tĩnh nghe anh nói đây. Hà vẫn như người điên nói cướp lời, như nói cho bõ cơn tức giận vô cớ.
     - Kẻ nói phải có người nghe chứ, nghe anh phân tích đây – Tùng mềm mỏng:
     - Điều thứ nhất: Em nói là có một thằng trong bọn tham quan nói với em là: “Anh em mình phải có một ngày ngồi duyệt thơ với nhau, cụ thể ngày nào anh sẽ báo em sau”. Tùng nghĩ. Duyệt thơ chứ có cái gì mà phải mất những một ngày ngồi với nhau. “Lâu không thấy hắn gọi đến duyệt thơ - Hà nói. “chắc thằng này cũng nhiều việc mà nó chỉ thèm tiền thôi”. Tùng thầm nghĩ thế thì đã tốt. vì Tùng rất lo lắng cho bạn
     - Điều thứ 2: khi Anh đưa em đến duyệt thơ (làm những thủ tục “quan hệ” là chính). Khi duyệt có 3 người, lý do gì mà lại phải mời 2 người về trước, còn lại có một mình em ở lại rồi khoá trái cổng lại?
      - Điều thứ 3: Ngồi chờ ở ngoài ạnh nhận được điện của em nói rằng:  “Anh chờ em một chút nữa”, anh ngồi đợi 30 phút rồi 45 phút, nóng ruột anh định nhảy bổ vào nhà, gần tới nơi thì gặp em quay ra, lại quên cái mũ đẹp mà mà hai đứa có nhiều kỷ niệm với nhau ở Nam Ngạn Hàm Rồng Thanh Hoá. Em không quay vào lấy mũ nói là ngại lắm, Tùng nói. Vài bước chân có cái gì mà ngại, vì tiếc cái mũ buộc Tùng phải nghĩ.
     Tùng biết Hà rất khôn khéo không để xẩy ra tai nạn là mừng rồi. Nhưng chỉ bấy nhiêu những điều Hà nói ra cũng đã đủ cho người mọi người phải suy luận, huống chi là Tùng một con người nhạy cảm như thế. Con người chứ đâu phải cái cột điện. Tùng suy luận rất đúng. Nhưng Hà vẫn buộc tội cho Tùng là xúc phạm Hà và vu khống cho bọn tham quan trong khi Tùng không hề kết luận một điều gì, lúc nào cũng muốn tốt cho Hà, đây chỉ là ý nghĩ của Hà. Lẽ ra hai người phải ăn mừng và chia sẻ với nhau khi mình không mắc nạn mới đúng. Nếu đem việc này ra chất vấn và tham luận thì Hà chỉ đeo mo vào mặt, mà ghế của bọn tham qua cung lung lay. Thật buồn cho sự suy nghĩ nông cạn, và bạc khẩu của Hà. Tùng giận thì ít thương Hà thì nhiều. Sống ở đời tìm được một người bạn để mà tri kỷ với nhau đâu phải dễ. Có lẽ cái căn bệnh quái ác gọi là “Rối loạn thần kinh thực vật” nó làm lệch hướng sự suy nghĩ của một con người dễ thương dễ mến như Hà, làm thay đổi cả bản chất con người Hà, để rồi bạn bè dần dần xa lánh! Khổ thân! Rồi không biết những chuyện gì sẽ đến với Hà nữa đây!
                                                                       Lê Nghiêm                                                                       
    













NHỮNG LỜI BÌNH

NÓI VỚI CONLÀ NHỮNG GIỌT ĐẮNG
CỦA  VIỆT HỒNG
NÓI VỚI CON                                                                                                                                
                   Nghe con nói, nghe con cười
            Thấy hình con giữa khoảng trời xa xôi
                  Vui là vui thế, Thế thôi!
            Thày mẹ thắc thỏm bời bời bấy nay
                  Bờ sông mưa bụi lắt lay
            Con cò chạm xuống rồi bay phương nào
                  Bây giờ tu những ước ao
            Bây giờ tu cả chiêm bao cuối mùa
                 Giờ quên cả những trò đùa
            Dửng dưng những thứ được thua ở đời
                 Đêm nằm mắt nhắm chơi vơi
            Đồng hồ tí tách giọt rơi thấm màn
                 Nghe con cuốc cuốc kêu khàn
            Lạnh tê một thuở non ngàn trẻ trai
                 Con mình giờ tưởng con ai
            Cháu mình giờ của người ngoài lạ chưa
                Nghe con hát mấy câu thơ
           Vương vào mắt mẹ bạc phơ tóc thày

                                     Tháng chạp Nhâm Thìn

Lời bình:

    Ai sinh con ra mà chẳng muốn con mình được vuông tròn, khỏe mạnh, ngoan ngoãn, học giỏi. thế mà nhà thơ Việt Hồng lại mất tích một đứa con gái vừa tuổi cập kê trăng tròn, do bọn buôn người bắt bán sang Trung Quốc. Cũng rất may mắn cho anh, sau 13 năm viết thơ để tìm kiếm, anh đã tìm thấy được con mình. Nhưng hoàn cảnh thật trái ngang, con anh đã lấy chồng có con ở một vùng trời xa lạ. Tết đến xuân về, nhà nhà sum họp, nhưng anh lại thiếu vắng một đứa con, anh chỉ còn cách nói với con, anh nói với con bằng thơ. Việt Hồng viết bài thơ “Nói với con” bằng thể thơ lục bát ngọt ngào mà sâu lắng.Trên màn hình vi tính anh được nhìn thấy con, anh vui mừng sung sướng nhưng niềm vui chưa trọn vẹn:
                   “Nghe con nói, nghe con cười
            Thấy hình con giữa khoảng trời xa xôi
Nghe con nói đấy, nghe con cười đấy mà thấy xót xa, trong khi cái tết cổ truyền đã đến gần, dập dìu kẻ đi người về, thì con anh lại ở một vùng phương Bắc xa xôi cách trở hàng ngàn cây số. cho nên anh vui thì vẫn vui, mà ruột gan anh nhàu nát. Hơn mười năm, vợ chồng anh, gia đình anh chờ  mong thắc  thỏm từng ngày:      
            “Thày mẹ thắc thỏm bời bời bấy nay
                  Bờ sông mưa bụi lắt lay
          Con cò chạm xuống rồi bay phương nào!”
     “Bờ sông mưa bụi lắt lay” hay gia đình anh tìm thấy con là một điều mơ hồ, cũng lắt lay như ngọn đèn trước gió khó mà thấy được. “Con cò chạm xuống”, hay con gái anh đã về. Niềm vui được nhân lên khi tìm thấy con; con anh đã về, về thật không phải là mơ. Niềm vui ấy không được bao lâu. Hình ảnh con cò chỉ chạm xuống rồi lại bay đi, cũng như con anh lại phải khăn áo ra đi. Hình ảnh con cò là hình tượng của con anh, anh ví con anh như thân cò, mà đã là thân cò lặn lội thì lấy đâu ra sung sướng. Trong ca dao có câu: “Thân cò lặn lội bờ sông”. Anh dứt ruột, bứt gan để viết nên những vần thơ máu thịt này, anh thành công trong nghệ thuật viết thơ, giầu hình ảnh, biến hình ảnh thành hình tượng. Thế mà anh vẫn phải tu :
                  “Bây giờ tu cả ước ao
            Bây giờ tu cả chiêm bao cuối mùa”.
    Tu theo gốc chữ Hán ()tu có nghĩa sửa, đến cuối mùa rồi, cuối thu rồi, tuổi đã xế chiều rồi mà nhà thơ vẫn tu, anh tu cả những ước mơ, tu cả những chiêm bao mới là lạ, những ước mơ và chiêm bao có cái gì sai để mà sửa. có phải  chăng  những  ước mơ và chiêm  bao được gần gũi con gái của anh không thành, nên anh viết nên những vần thơ chua xót này. Những mất mát những tổn thương làm cho anh :
                  “Giờ quen cả những trò đùa
            Dửng dưng những thứ được thua ở đời
Đêm nằm mắt nhắm chơi vơi
            Đồng hồ tí tách, giọt rơi thấm màn”.
     Xa một đứa con gái duy nhất, anh như người mất hồn, anh quen cả những trò đùa vô bổ, anh dửng dưng với những được thua, những mất còn ở đời. Anh viết thơ hay anh thổn thức bằng thơ. “Đêm nằm nhắm mắt chơi vơi”, qua từ “chơi vơi” ta thấy tâm trạng đau buồn của anh, chơi vơi đồng nghĩa với chới với, chới với không có chỗ vịn, cũng như lửng như lơ vậy. Mắt anh nhắm mà như mở, ngủ mà như thức, tỉnh mà như mơ, anh mơ màng nhớ con. Đêm càng về khuya không gian càng tĩnh mịch, từ tiếng con thạch sùng kêu chặc chặc, đến tiếng mưa rơi, tiếng đồng hồ tí tách đều gợi nên một nỗi buồn não ruột. tiếng đồng hồ trong thơ Việt Hồng nghe tí tách như những giọt sầu, có lẽ không phải là giọt mưa mà là những giọt lệ rơi.Việt Hồng khóc bằng thơ. Thơ của anh thấm ướt cả mùng màn chăn gối, mà con  mình  vẫn  xa  vời  vợi  nơi  phương  trời   xa  lắc. Đêm nằm nhớ con trằn trọc thao thức, anh còn nghe thấy những âm thanh khác lạ như vận vào anh :
Nghe con cuốc cuốc kêu khàn
            Lạnh tê cả thuở non ngàn trẻ trai”
    Nhớ con, vợ chồng anh đã khóc ướt cả chăn gối, hình ảnh con chim cuốc kêu đến khản cả tiếng, hay chính anh đã khóc đến khản cả giọng. Anh như dại như ngây, anh khóc suốt cả phần cuối cuộc đời, tâm hồn anh tê tái, tim anh thắt lại :
“Con mình giờ tưởng con ai
            Cháu mình giờ của người ngoài lạ chưa !”
   Thật xót xa, con gái mình rách ruột đẻ ra, nuôi con đến lúc lớn khôn, không gả, không bán, mà phải xa con biền biệt, còn mà như mất, có mà như không, ai mà không đau lòng. Cho nên anh nghĩ con mình mà tưởng như con ai, cháu mình đích thực con gái mình đẻ ra mà nghĩ như cháu của người ngoài thì thật là chua xót. Câu thơ anh viết mà như dao cứa vào da thịt, như giằng xé ruột gan,  liệu con anh đọc những  dòng tâm  huyết  này có cầm được  nước mắt, có chịu đựng được không? Trên  màn  hình  vi tính cả gia  đình nhìn  thấy con anh, nghe con anh đọc thơ của anh mà thấy nghẹn ngào, nước mắt vợ anh, nước mắt anh, nước mắt mọi người làm mắt nhòa đi, tóc anh bạc thêm ra:
  “Nghe con hát mấy câu thơ
               Vương vào mắt mẹ, bạc phơ tóc thày”
     Mười tám câu lục bát mượt mà, đằm thắm, thiết tha, day dứt, nghẹn ngào của nhà thơ Việt Hồng đúng là viết ra từ gan ruột máu thịt của mình. Những câu chữ không mới mà rất mới, bởi anh biết cách tân nó bằng cách vận dụng đúng chỗ, nên gây nhiều gợi cảm cho độc giả. Thơ anh giầu hình ảnh, những hình ảnh thân quen  không cầu kì lên gân, anh biết biến hình ảnh thành hình tượng sâu sắc dẫn dắt người đọc đến sự chia sẻ tâm huyết, tình cảm của mình. Đó là một thành công của người cầm bút. Phải nói rằng bài thơ: “Nói với con” là một điểm nhấn trong sự nghiệp văn thơ của anh.





ĐẾN VỚI SỰ MẤT CÒN CỦA TÍCH TUẤN
QUA BÀI THƠ “TRÁI TIM”

   TRÁI TIM   
                 
                  Cái còn nó vẫn còn đây
            Bao nhiêu cái mất chất đầy con tim
  Lắm khi chống gậy đi tìm
            Khuấy trong kí ức nổi chìm không ra
  Thôi đừng xáo xới tim ta
            Đất trời đã khéo sinh ra mất còn
  Trái tim múa những nét son
            Họa con chim hót véo von tình đời. 
                                       
                                                    Tích Tuấn

Lời bình:

       Người ta thường nói từ trái tim đến khối óc. Những dự định lớn lao, những kế hoạch ngắn dài, những ước mơ hoài bão, những tính toán mưu sinh v.v… hiển nhiên là sự vận động của khối óc. Nhưng nói đến trái tim người ta  nghĩ ngay đến tình cảm của mỗi con người, phải chăng trái tim cũng biết suy nghĩ, bởi sự buồn vui, hờn tủi, yêu thương, đau khổ, hạnh phúc và căm ghét người ta thường nghĩ đến con  tim. Con tim rung lên khi nhận được tình yêu ngọt ngào, và những lời ân ái, chết lịm con tim khi nhận lấy khổ đau, khắc khoải, tủi hờn khi tình yêu tan vỡ, con tim trở thành chai sạn khi trải qua những mất mát thăng trầm …Con người ta bắt đầu từ lúc chào đời đã biết nhận và cho. Đầu tiên là nhận được ánh sáng, những tinh hoa tinh túy của vũ trụ, của đất trời, nhận được tiếng chim hót lảnh lót trên cành, mầu xanh của lá, mầu hồng của hoa, nhận được mùi thơm sữa mẹ và tiếng à ơi dịu ngọt cùng sự nâng niu trìu mến của người thân. Còn cho ư? Khi chào đời con người ta tưởng như không có gì để cho, nhưng thật nhiều. Cho cha mẹ và mọi người tiếng khóc u oa, cho niềm vui hân hoan sau chín tháng mười ngày chờ đợi, cho cái ngây thơ trong trắng, cho nụ cười mụ dậy nở trên môi... Nhà thơ Tích Tuấn đã cho những gì, nhận những gì, và cái gì còn, cái gì mất. Mở đầu bài thơ ông đã nhận thấy rằng:
            “Cái còn nó vẫn còn đây”
   Phải chăng đây là tiếng nấc cuộc đời, để trái tim thổn thức, khắc khoải, trống vắng, bi thương vì :
            “Bao nhiêu cái mất chất đầy con tim
     Câu thơ rất ảo mà lại thật, khiến người đọc phải ngậm ngùi, xót xa. Đó cũng là sự thành công  của  người cầm bút khi chuyển  tải tình cảm vào thơ, để câu thơ thêm đậm đà mầu sắc. Bài thơ sinh động lên khi tác giả đặt ra tình huống mất, còn:“Cái còn nó vẫn còn đây”. Thật là trớ trêu, giữa cái còn và cái mất, cái còn  thì còn  mãi  không  bao giờ mất, nó đi theo con người ta đến tận cùng năm tháng của cuộc đời. Cái còn càng nhiều bao nhiêu, thì trái tim lại càng tan nát, day dứt, vò xé, đau khổ, luyến tiếc cái mất bấy nhiêu, muốn đánh đổi cũng không bao giờ đổi được. Bởi nó là những kỉ niệm buồn vui, những chia sẻ vơi đầy, những yêu thương mặn mà nồng cháy trong tim, đã ghi xương khắc cốt, không  bao giờ quên  được. Còn cái mất đã  bay xa vào vũ  trụ tâm linh huyền bí, cho dù một lần, hai lần và nhiều lần, thậm chí đến lúc hơi tàn sức yếu phải  “chống gậy đi tìm”“khuấy” trong ngân hàng “kí ức nổi chìm” cũng không bao giờ thấy được, mà chỉ thấy những  tình cảm yêu thương trìu mến của những ngày xa xưa. Tôi cũng đã từng an ủi vợ một liệt sĩ bằng những vần thơ :
                   “Thôi em đừng đào bới những thiên thu
  Nơi nghĩa địa tìm đâu ra hơi ấm
  Hãy giữ lấy mầu xanh bích ngọc
  Số phận một phần, đông hết phải sang xuân”
                                  ( Sang xuân - Lê Nghiêm )
     Nhưng không thể nào làm vơi đi những nỗi khổ đau đang giằng xé tâm can trong sự mất còn. Cũng như tác giả đau đáu trong lòng khi viết những câu :
Thôi đừng xáo xới tim ta
            Đất trời đã khéo sinh ra mất còn”
    Đó cũng là lời than vãn xót xa, xin đừng ai nhắc đến cái mất mát đau thương không bao giờ níu lại được. Ông cũng tự an ủi mình, vì tất cả như có sự sắp bày của qui luật tạo hóa:
            “Con sông nào cũng đổ về biển cả
            Lá vàng rơi – đâu bão táp dập vùi
            Đời muốn dài nhưng chống sao qui luật
            Dấu chấm than lẫn lộn cả buồn vui ”.
                                       ( Dấu chấm than  N.T )
     Vết thương nào rồi cũng thành sẹo, nỗi  buồn  nào rồi cũng vơi đi. Sau cơn giông tố thì trời lại sáng. Sau những mất mát đau thương hờn tủi trái tim quằn quại giờ lại :       
            “Múa lên những nét son
            Họa con chim hót véo von tình đời”.
          Hình ảnh ngọn bút của họa sĩ vung lên vẽ con chim hót véo von, chính là sức vươn, là tính tích cực của con người. Bức tranh “con chim hót véo von” đó là sức sống của tác giả, sức sống của con người không sợ gian nan, không sợ mất mát.

     Bài thơ viết có hậu, chỉ với tám câu lục bát ngọt ngào, dung dị, đằm thắm, khá nhuần nhuyễn ngôn từ rất đời thường, không cầu kì không lên gân, tác giả đã miêu tả được sự nhạy cảm của con tim . Đó là tình cảm của những con người biết vui, biết buồn, biết hờn biết tủi, biết đau thương và biết vươn lên đỉnh cao của cuộc sống, là “Tiếng chim hót véo von tình đời ”. Cảm ơn nhà thơ  Tích Tuấn  đã cho  độc giả thấy sự thăng trầm chìm nổi của con tim. Xin ông Hãy “giữ lấy những gì ta đã có / Hạnh phúc ngọt ngào có cả máu hồng tươi.





XIN CHIA SẺ VỚI DƯƠNG TÙNG GIANG
Qua bài thơ: “Nỗi đau Đi-ô-xin

NỖI ĐAU ĐI-Ô-XIN

Từ chiều ấy con đi không về nữa
Chẳng ngày nào cha không gọi tên con.

Con chào đời trong tay mẹ bao dung
Con ra đi trong tay cha bất lực
Cha run rẩy vuốt cho con đôi mắt
Con lặng im như đang giấc ngủ sâu .

Cha bàng hoàng gục xuống giữa cơn đau
Chiếc hòm gỗ mầu son rực lên như hòn lửa
Đứng lặng yên vô hồn khô lệ
Cha muốn khóc con dù chỉ một lần .

Hoa trắng héo trên mồ dưới bình minh
Cha vẫn thắp hương cho con mỗi lần trời rạng sáng
Nỗi buồn cứ dài theo năm tháng
Cha vẫn ngồi xuống mỗi cơn đau .


Cha biết đi đâu về đâu
Đành để mặc tim mình quằn quại

Những khoảnh khắc nhớ con ngây dại
Cha vẫn thấy con ngồi học đêm đêm.
Thương con cha lặng im
Nắm mì tôm vẫn để phần cho con ăn đỡ đói
Nhớ con cha thầm gọi
Tên con cha đã đặt từ những năm chiến tranh.

Trong máu lửa cha vẫn mong về cuộc sống yên bình
Mà bây giờ nỗi đau dài theo năm tháng
Cha biết có một ngày cha nằm xuống
Vĩnh viễn -  nhẹ nhàng - bình yên
Sau một cơn đau tim dữ dội .

Kẻ ác chưa một lần kết tội
Nỗi đau đi-ô-xin đè nặng kiếp người
Những mơ ước nhỏ nhoi
Tuổi thơ con vụt tắt.

                  Dương Tùng Giang

Lời bình:

     Tôi rất may được tác giả Dương Tùng Giang cho xem tập bản thảo, và được tặng tập thơ “Dòng sông vẫn chảy
sớm hơn mọi người do NXBVH ấn hành năm 2012. khi đọc đến bài: “Nỗi đau đi-ô-xin” Tôi thật sự xúc động.  Khi sinh con ra, ai chẳng muốn vuông tròn. Nhưng tạo hóa thật cay nghiệt, trời đất thật không công bằng: “con chào đời trong tay mẹ bao dung” rồi con lại “ra đi trên tay cha bất lực”. Có nỗi đau nào đau hơn thế! Những người lính khi ở chiến trường họ phải hứng chịu bao gian nan thử thách để giành lấy hai tiếng hòa bình. Nhưng chớ trêu thay, khi chiến tranh kết thúc, họ trở về với quê hương làng xóm, với mái ấm tình thương của mình, họ còn đau khổ hơn nhiều – cái nỗi đau nó giằng xé tâm can, đeo đẳng đi theo suốt cả cuộc đời, dằn vặt tâm hồn theo năm tháng… Bởi cái chất đi-ô-xin chết người kia đã ngấm sâu vào từng thớ thịt, từng tế bào từng giọt máu của người lính. Lúc xây dựng gia đình, hạnh phúc nào bằng khi nghe tiếng à ơi, thế mà những đứa trẻ sinh ra nó có tội gì đâu mà “bà mụ” lại lỡ tay nặn ra méo mó hình hài, đầy mình bệnh tật. Dương Tùng Giang anh viết cho riêng anh, anh viết cho những người lính cùng chung số phận với anh, kể cả những người lính Mỹ:
            “Cha bàng hoàng gục xuống giữa cơn đau
            Chiếc hòm gỗ mầu son rực lên như mầu lửa
            Đứng lặng yên mắt vô hồn khô lệ
            Cha muốn khóc con, dù chỉ một lần”.
     Thơ Dương Tùng Giang giản dị mà như khía vào những nỗi đau chiến tranh chưa thành sẹo của những người lính không may mắn. Hình ảnh chiếc hòm gỗ mầu son lạnh ớn kia, lại hóa thành hình tượng những ngọn lửa chiến tranh cứ âm ỉ đốt cháy mãi cuộc đời. Những người lính như anh muốn khóc khi mất một đứa con, nhưng không sao khóc được, bởi từ lúc sinh con ra, họ đã âm thầm khóc quá nhiều rồi, họ bất lực trước “Nỗi đau đi-ô-xin”,nên họ còn đâu nước mắt nữa để mà khóc. Những dòng nước mắt ấy đã hóa thành mạch lệ ngầm chảy ngược vào tim.
    Là cha, là mẹ, ai không muốn sinh con ra được lành lặn, khỏe mạnh. Có nỗi đau nào đau hơn những người lính mang trong mình cái chất độc đi-ô-xin quái quỉ ấy. Sinh con ra nuôi con đấy, yêu con đấy, thương con dứt ruột, đứt gan, mà vẫn phải chờ một ngày không mong muốn! Vẫn cầu nguyện cho con mình kéo dài thêm sức sống. Những vòng hoa trắng vẫn đè lên nấm mộ, rồi héo dần trong những buổi bình minh, và “cha vẫn thắp hương cho con mỗi khi trời rạng sáng”Đó là những nỗi đau đớn, xót xa suốt cả cuộc đời :
 “Cha biết đi đâu về đâu
            Đành để mặc trái tim mình quằn quại”
   “Nỗi đau đi-ô-xin” là một bản cáo trạng tố cáo cuộc chiến tranh vô cùng bẩn thỉu và dã man của đế quốc Mỹ gây ra, trời không dung, đất không tha. Tòa án đâu sao không minh sét, để Dương Tùng Giang phải gào thét lên:
            “Kẻ ác chưa một lần đền tội
             Nỗi đau đi-ô-xin đè nặng kiếp người
             Những mơ ước nhỏ nhoi
             Tuổi thơ con vụt tắt”.
      “Dòng sông vẫn chảy”.Thơ anh vẫn chảy, cho dù nỗi đau này đeo đẳng suốt cuộc đời anh, và những người lính như anh. Xin chia sẻ cùng anh qua bài thơ “Nỗi đau người lính”.

 NỖI ĐAU NGƯỜI LÍNH

Vợ chồng ai chẳng muốn vuông tròn
Anh lên đường làm trọn việc nước non
Trí làm trai không bao giờ nợ nước
Thân làm gái vẫn một dạ sắt son.



Anh trở về khi Mỹ ngụy đã tan
Hết chiến tranh chưa hết cảnh điêu tàn!
Đất nước đã hoàn toàn giải phóng
Anh ôm em xiết chặt vào lòng.

Hạnh phúc riêng anh chẳng nhiệm mầu
Ôi Hỡi trời! anh có tội gì đâu
Mà vợ sinh con thành dị tật
Thiếu chân, thiếu mắt, lại to đầu

 Ôi! Chiến tranh sao lại hóa kéo dài
Tội ác này xin hỏi tại ai?
Tòa án đâu sao không minh xét
Đứa trẻ sinh ra cũng một kiếp người.

Ôi! Nỗi đau như dao cắt vào lòng
Những ước mong, khát khao và sung sướng
Cháy ruột gan, tất cả thành vô vọng
Thành mạch lệ ngầm chảy ngược vào tim .

                                               Nghiêm Thản





SỰ CHỐNG CHẾNH CHÔNG CHÊNH
LÀ “KHOẢNG LẶNG” TRONG THƠ
NỮ SĨ HỌ BÀNH

                  KHOẢNG LẶNG
           
                  Không anh chống chếnh chông chênh
             Nắng hiu hắt nắng, ngày mênh mang ngày
                 Đêm về tay nắm bàn tay
            Bóng buồn lẻ bóng, héo gày chờ mong
                 Đông về lòng vắng hoang lòng
            Người xa, xa mãi khuất trong xa mờ
                 Thôi đành vịn lấy câu thơ
            Gửi tình vào chốn mộng mơ một mình
                 Nép vào khoảng lặng vô hình
           Mình riêng, riêng một cỗi tình xa xôi…

                                   Bành Phương Lan
 
Lời bình:

     Đọc tập san Thi đàn bình thơ Trường Xuân tập 1 tôi bắt gặp bài thơ: “Khoảng Lặng” của nhà thơ Bành Phương Lan. Tôi nghĩ trong cuộc đời dài ngắn của mỗi con người, ai cũng có lúc trống vắng, chơi vơi, thiếu hụt, lẻ loi, lặng lẽ, cô đơn. Đó chính là “khoảng lặng” Có cái “khoảng lặng” nhẹ nhàng, man mát chờ đợi, có những “khoảng lặng” lạnh đến ớn người, bởi cái “khoảng lặng” ấy nó kéo dài như vô tận. Với mười câu lục bát ngọt ngào, đằm thắm, thiết tha, da diết, dường như tác giả đã thấu hiểu được những riêng tư của người phụ nữ, chị đã cho độc giả thấy một “khoảng lặng” mênh mang dài dằng dặc, đó là sự mất mát chống vắng cô đơn của người đàn bà. Từ tình yêu đôi lứa đến tình cảm vợ chồng, như nhà thơ N.T đã viết:
                 “Rất hạnh phúc khi cả nhà sum họp
            Thiếu một người cơm bữa chẳng thấy ngon”
                                         (Mong N.T)
Bành Phương Lan, chị chia sẻ những mất mát, xót xa, trống vắng, hụt hẫng của những mảnh đời không may mắn:
                  “Không anh chống chếnh, chông chênh    
             Nắng hiu hắt nắng, ngày mênh mang ngày”.
    Trong tình yêu khi hai tâm hồn đã hòa làm một, hai thể xác đã trộn vào nhau, thì với họ chỉ là một nửa, mà đã thiếu đi một nửa thì sao mà không “chống chếnh”. Nhưng câu thơ của Bành Phương Lan không dừng lại ở hai từ “chống chếnh” mà còn “chông chênh” nữa kia. Tất cả mọi thứ, cho đến tình cảm con người khi đã rơi vào thế “chông chênh” thì thật là nguy hiểm. Chưa đủ, nỗi trống vắng ấy còn như tia nắng yếu ớt “hắt hiu” sắp tắt, như ngày cứ “mênh mang” dài mãi ra. Qua những từ láy “chông chênh, hắt hiu, mênh mang”, và những cụm từ “nắng hiu hắt nắng, ngày mênh mang ngày, bóng buồn lẻ bóng, lòng vắng hoang lòng”. Ta thấy chị đã thừa hưởng được những tinh hoa của Nguyễn Du trong truyện Kiều: “Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao / Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng”. Chứng tỏ nhà thơ đã dùng nghệ thuật viết của mình để diễn tả sự mất mát, xót xa, trống trải, lẻ loi cô đơn khi người thân của mình đã vắng bóng. Những nỗi buồn ấy như giằng xé, bào gọt tâm can, cắt vào từng thớ thịt từng tế bào:
                  “Đêm về tay nắm bàn tay
            Bóng buồn lẻ bóng, héo gày chờ mong
Câu thơ của Bành Phương Lan làm cho cái“khoảng lặng” ấy càng buồn đến não ruột. Để người phụ nữ phải day dứt, dằn vặt đến nỗi ngày như  dài  thêm  ra,  đêm  thì  trằn  trọc không ngủ được, bàn tay lúc sấp, lúc ngửa nắm chặt lại, miên man suy nghĩ. Con người chỉ còn là cái bóng héo gày mà vẫn chờ mong một điều như vô vọng. “Khoảng lặng” ấy cứ đi theo suốt cả cuộc đời:
                  “Đông về lòng vắng hoang lòng
            Người xa, xa mãi khuất trong xa mờ”.
     Mùa đông là mùa của những đôi chim câu tha rác về làm tổ. Không có mùa đông tìm đâu ra hơi ấm, tìm đâu ra ngọn lửa đỏ tình yêu. Nhưng mùa đông trong cái “khoảng lặng” của Bành Phương Lan thì tê tái lạnh buốt như kem, “lòng vắng hoang lòng”, nhà như rộng thêm ra, bởi “người xa, xa mãi khuất trong sương mờ”. Dường như số phận của mỗi con người đều được sắp đặt, tất cả mọi việc đều đi đến kết thúc, vết thương nào rồi cũng thành sẹo, nỗi buồn nào rồi cũng vơi đi. Bành Phương Lan, chị an ủi nhân vật của mình bằng cách “thôi đành” và “vịn lấy câu thơ” để mà sống, thầm lặng “gửi tình riêng” của mình vào “chốn mộng mơ”. Nép mình vào nơi góc khuất của cuộc đời, nơi “khoảng lặng” của thời gian như vô hình để chèo chống với thử thách của cuộc đời. Chỉ với năm cặp lục bát ngọt ngào đằm thắm thiết tha, bài thơ không dài mà chuyển tải được tình cảm của những người lẻ bóng cô đơn thật đầy đủ. Nhà thơ đã dùng  những  ngôn ngữ đời thường, rất gần gũi  nhưng  lại  rất đắt , bởi chị đã biết đặt đúng chỗ của nó, để dẫn độc giả hiểu sâu hơn nội dung của bài thơ. Phải nói rằng bài thơ “khoảng lặng” là một trong những dấu chấm son trong sự nghiệp thơ văn của chị. Chúng tôi những độc giả rất yêu thơ chị đang chờ những bài thơ hay hơn. Chúc chị may mắn, có nhiều cảm xúc.





“NỖI ĐAU MANG MẦU DA CAM” - VẾT SẸO
KHÔNG LÀNH CỦA NHỮNG NGƯỜI LÍNH


               NỖI ĐAU MANG MẦU DA CAM
              (Kính tặng những người lính
                  nhiễm chất độc da cam )
              
                 Con trai!
              Thế là nhà ấy đẻ con trai!
Những lời chúc  đầy ba gian nhà nhỏ
             “Thằng cha ấy thế mà số đỏ
Bộ đội về, vợ muộn, đẻ con trai”
Anh chạy quanh vòng trong, vòng ngoài
Vừa tiếp khách, vừa nhận lời mừng, chúc
Trong ánh mắt một nỗi đau uẩn khúc
Chốc chốc lại hướng về phía buồng trong.

Người mẹ trẻ ôm chặt con vào lòng
Tiếng nấc nghẹn, nước mắt rơi lã chã
Hai bàn tay kéo vội vàng chiếc tã
Để dấu đi những khuyết tật trên mình
Của thằng con trai chị vừa mới  sinh
Như chẳng muốn ai nhìn thấy nó                               
      Đậy lại niềm hy vọng của dòng họ    
      Đang mong có người nối dõi tông đường...
        
      Người lính ấy, năm xưa đi chiến trường
      Nỗi đau này, làm tim anh hoá đá
      Ôm vợ con trong tay, cố không gục ngã
      Trận mưa bom hoá chất năm xưa, bỗng hiện về
      Chất độc da cam cả đơn vị đều chia...

      Anh rùng mình, rồi lại nhìn thằng bé
      Con trai ơi! tha lỗi cho cha nhé
      Chiến tranh mà, cha nào muốn đâu con
      Cha ra đi chiến đấu vì nước non
      Mong ngày về, một gia đình yêu dấu
      Mơ ước ấy, đã được đổi bằng máu
      May mắn hơn những người bạn đã hy sinh
      Cha được trở về sống giữa thời bình
      Nỗi đau chiến tranh lại hiện về qua con trẻ
      Chẳng bao giờ thành một người đàn ông
      Thằng con trai sẽ mãi còn thơ bé
      Một dòng họ không người nối dõi tổ tông...
      Nhân loại ơi! Nỗi đau này còn mãi...   

                                           Bành Phương Lan

    Lời bình:  

    Chiến tranh đi qua, những người lính trở về được trọn vẹn là một điều rất may mắn. Có biết bao người đã ngã xuống, vĩnh viễn gửi xương thịt của mình nơi rừng sâu núi thẳm, những người may mắn hơn thì thiếu hụt một phần của cơ thể, hoặc tàn phế, hoặc mang trong mình một thứ chất độc chết người, để lại những di chứng  quái quỉ cho đến tận các đời sau. Những mất mát ấy là những nỗi đau nó đi cùng năm tháng theo suốt cả cuộc đời người lính.
   Nhà thơ Bành Phương Lan đã chia sẻ nỗi đau ấy với những người lính không may mắn qua những vần thơ đầy thông cảm, chị đau chung với những nỗi đau như giằng xé tâm can, như muối sát vào lòng, khi mọi người  mừng nhầm cho số phận của mình :
 “Thằng cha ấy thế mà số đỏ
              Bộ đội về, vợ muộn, đẻ con trai”.
    Những người lính khi rời quân ngũ trở về với quê hương, làng xóm, xây dựng hạnh phúc gia đình, ai mà không mừng, nhất là lại nghe tin vợ đẻ con trai. Ai sinh con mà không muốn được vuông tròn. Nhưng trớ trêu thay, có đau xót nào bằng chính  những lời chúc vui, lời mừng ấy lại như dao cứa vào da thịt, mũi dao nhọn, mũi kim châm  trích vào tim. Bởi đứa trẻ sinh ra đâu có phải là một hình hài trọn vẹn, mà chỉ là một đống thịt không hồn. Trong ánh mắt của người lính không dấu được những nỗi đau uẩn khúc:
           “Chốc chốc lại hướng vào phía buồng trong
           Người mẹ trẻ ôm con chặt vào lòng
           Tiếng nấc nghẹn, nước mắt rơi lã chã”.
    Người phụ nữ họ có tội gì đâu, những năm tháng đợi chờ dài đằng đẵng, người yêu đi biền biệt bao khao khát, thời gian ấy, quãng đời ấy họ đo bằng tuổi thanh xuân hăng say nhịp sống của mình, thế mà cái thiên chức được làm mẹ như thế này đây:
          “Hai bàn tay kéo vội vàng chiếc tã
          Để dấu đi những khuyết tật trên mình
          Của đứa con trai chị vừa mới sinh”.
     Đứa trẻ được đầu thai nó có tội gì mà tạo hóa lại lỡ nặn ra một hình hài méo mó, khó chịu. Liệu đứa trẻ ấy có trở thành một con người được không? Hay suốt đời sống như thực vật làm khổ mẹ khổ cha, làm khổ những người thân, còn nói đâu đến nối dõi tông đường. Thơ của Bành Phương Lan đã làm cho trái tim của những người lính mang trong mình chất độc Đi-ô-xin, vốn đã chai sạn, càng thêm chai sạn  hơn :
            “Người lính ấy năm xưa đi chiến trường
             Nỗi đau này là tim anh hóa đá
             Ôm vợ trong tay cố không gục ngã”.
     Trái tim các anh hóa đá, hay trái tim các anh đang quằn quại trước nỗi đau như cấu xé từng thớ thịt, từng tế bào trong cơ thể, như gọt dũa gan ruột mình, nó theo các anh đeo đẳng suốt cuộc đời, mà còn kéo dài mãi sang những thế hệ sau. Thơ của nữ sĩ họ Bành rùng mình, hay các anh rùng mình trước tội ác man rợ đến ghê tởm của bọn giặc Mĩ xâm lược, đã dùng những kiến thức khoa học hiện đại không phục vụ con người, mà còn hủy diệt tất cả mọi sinh vật đến tận cùng không lối thoát. Chị đã kêu lên:
              “Nhân loại ơi! Nỗi đau này còn mãi”.
    Cái nỗi đau này còn mãi, bởi những di chứng nó kéo dài sang những đời sau. Theo phong tục của người Á Đông, không có con trai để nối dõi tông đường lại là một trong những điều bất hiếu, mà đứa trẻ sinh ra có thể vẫn sinh hoạt bình thường nhưng lại mất đi cái thiên chức của người đàn ông, trong khi cả gia đình mong mỏi, cả một dòng họ mong mỏi. thế mà nỗi đau ấy đã :
            “Đậy lại niềm hy vọng của dòng họ
             Đang mong có người nối dõi tông đường”
    Cái chất độc ghê người ấy không phải đem đến cho riêng những người lính “xấu số” mà cho vợ, cho cho gia đình, cho cả dòng họ. Hàng trăm dòng họ có thể bị tuyệt tự do cái chất độc đi-ô-xin chết người kia:
  “Thằng con trai sẽ mãi còn thơ bé
                    Chẳng bao giờ thành một người đàn ông
  Một dòng họ không người nối dõi tổ tông”.
    Thử hỏi có nỗi đau nào xót xa hơn, có tội ác nào lớn hơn thế, kẻ ác chưa một lần đền tội, tòa án đâu sao không minh xét.
       “Nỗi đau mang màu da cam” là một tác phẩm hiện thực, một di phẩm để muôn đời con cháu mai sau biết đến, một bản cáo trạng đanh thép tố cáo giặc Mĩ xâm lược của Bành Phương Lan. Mặc dù câu thơ chưa được mượt mà, còn kể lể dài dòng chưa cô đọng. Nhưng chị cũng đã chia sẻ được những đầy vơi, những mất mát xót xa của những người lính không may mắn, đó cũng là tính nhân văn trong thơ của chị. Chúc chị giầu cảm xúc hơn để có những vần thơ hay hơn nữa.




TA CÙNG ĐẾN “NƠI ẤY”-
NƠI HỘI TỤ TINH HOA NGÔN NGỮ, 
ĐƯỢC CHẮT LỌC TỪ VỊ ĐỜI CỦA  VIỆT HỒNG

NƠI ẤY   

Trong quán nhỏ chúng tôi ngồi tâm sự 
Trò chuyện với thơ, trò chuyện với đời
Ngồi cạnh tôi có một người con gái
Mới thoáng nhìn đã cất được lời ca.

Em hồn hậu như hoa
Không dị ứng sắc màu quá khứ
Em vô tư như như lịch sử
Không tù túng tình yêu và lẽ vợ chồng.

Em phá vòng “Kim cô”nhỏ hẹp
Tung cánh chim bay lượn giữa trời
Tần tảo sống và tần tảo mơ mộng
Tìm kiếm trong đời người mình thích mình yêu .
Mắt em xanh một khoảng trời xanh mới
Vừa xa xăm, lại vừa gần gũi
Vừa da diết lại vừa lơ đãng

Chứa trăng sao bão táp cuộc đời .

Em như thần Vệ Nữ trong thơ
Mà thơ không viết nổi
Giữa ồn ào thật giả
Sang hèn, hoa lệ, hắt hiu.

Tôi ngắm bạn, ngắm em
Mới biết mình nghèo
Nghe em đọc câu thơ của bạn
Vời vợi nhớ thương nơi ấy chân cầu
Nước mắt tràn ra tắm nỗi đau
Chảy vào câu thơ bỏ ngỏ
Tôi lặng im
Lắng nghe
Tiếng tình yêu
Phát ra từ miệng chén
Thơm mùi men rượu…Từ em.

                                Việt Hồng - 10 - 2009


Lời bình:

    Nhân đọc bài thơ “Nơi ấy”của Việt Hồng, tôi lại nhớ đến nữ sĩ Hồ Xuân Hương, đã một thời có một quán thơ. Ngày nay Việt Hồng anh có “Nơi ấy”, Nơi ấy” chính là cái quán nhỏ thân thương mà nhà thơ hay lui tới, là nơi hội tụ những tinh hoa của ngôn ngữ được chắt lọc từ vị đời. nhưng “Nơi ấy” của Việt Hồng không hạn hẹp trong cái quán nhỏ kia, mà có thể là nơi: “Em hẹn anh đến dưới chân cầu / Nơi tình yêu bắt đầu từ ngô lúa”, (Lê Nghiêm) hoặc là nơi: “Nước mắt tra ra tắm nỗi đau /chảy vào câu thơ bỏ ngỏ”(Lê Nghiêm) Từ “Nơi ấyViệt Hồng đã bắt gặp một tâm hồn người con gái:
            “Hồn hậu như hoa
            Không dị ứng sắc mầu quá khứ”
    Cái mà nhà thơ gọi là “sắc mầu quá khứ” kia, chính là sự mặc cảm, sự áp đặt, những lời đàm tíu, những thói quen đã thành tục lệ của lễ giáo phong kiến, trút lên đầu người phụ nữ. Nhà thơ đã nhìn thấy một người con gái có bản lĩnh, biết chấp nhận, biết chớp nhanh cái khoảnh khắc thời gian quí giá, biết đấu tranh để giành lấy tình cảm riêng tư của mình trong cuộc sống. Đấy là những tâm hồn trong sáng họ biết trách nhiệm và bổn phận của mình là làm vợ, làm mẹ, biết thương chồng thương con để hướng tới một cuộc sống tự do và hạnh phúc, không chịu tù túng về tình yêu và lẽ sống vợ chồng.
     Bài thơ “Nơi ấy” chính là một bài phóng sự của Việt Hồng, anh có cái nhìn rất tinh tế sâu thẳm vào cuộc sống đời thường của một văn nghệ sĩ, thông qua hình ảnh người con gái ta đã thấy được ít nhiều cái chân thật của mỗi con người. Cái mà nhà thơ gọi là “vòng kim cô nhỏ hẹp” kia chính là một lối sống ích kỷ, một áp chế vô lí, thiếu tự do, không công bằng mà người phụ nữ, người vợ phải thiết thòi, phải hứng chịu. Thơ anh lên tiếng đấu tranh cho những người vợ, cho phụ nữ. Bởi trong đời thường tại sao có những cái người chồng có mà người vợ không có, người chồng được mà người vợ không được. Nhà thơ đã nhìn thấy sự bứt phá tự thoát ra khỏi những ràng buộc vô lí ấy :
        “Em phá vỡ vòng “Kim cô”nhỏ hẹp
          Tung cánh chim bay lượn giữa trời”. 
     Khi đã tới một chân trời mới, một không gian mới, tâm hồn sẽ thanh thản, tư tưởng thoải mái hơn, yêu đời, yêu cuộc sống hơn. Việt Hồng như nhìn thấy được tâm hồn của cô gái đang hưởng thụ những giây phút tự do:
Mắt em xanh một khoảng trời xanh mới
 Vừa xa xăm lại vừa gần gũi
Vừa da diết lại vừa lơ đãng
            Chứa đựng trăng sao bão táp cuộc đời”.
    Cô gái như chim sổ lồng “Giữa những ồn ào, thật giả, sang hèn, hoa lệ, hắt hiu” náo nhiệt của cuộc sống. được hưởng những phút tự do, cô thấy mình hạnh phúc nhưng cũng rất âu lo. Nhà thơ Việt Hồng, anh vẫn biết trong cái vòng luẩn quẩn kia, cô gái cũng như người phụ nữ, người vợ luôn bị ràng buộc tù túng suốt đời họ phải:
             “Tần tảo sống và tảo tần mơ mộng
        Tìm kiếm trong đời người mình yêu mình thích”
    Việt Hồng là nhà thơ đa sầu đa cảm, anh biết thông cảm cho những người phụ nữ những người vợ luôn tần tảo với chồng với con, mà đến cả mộng mơ cũng phải tảo tần thì thật là quá thiệt thòi. Phụ nữ luôn là người chịu thiệt thòi, lẽ ra cần phải bù đắp nhiều cho họ mới phải. Những ham muốn, những khát khao tình cảm riêng tư, họ đều phải dấu kín trong lòng. Bởi họ luôn bị trói chặt trong cái vòng “Kim cô nhỏ hẹp”ấy. Anh thương cho những người không thoát ra khỏi nơi tù túng ấy mà thấy :
            “Vời vợi nhớ thương nơi ấy chân cầu
            Nước mắt tràn ra tắm nỗi đau
            Chảy vào câu thơ bỏ ngỏ”.
    Đúng là thơ và đời, Việt Hồngngắm bạn, ngắm em” mà thấy lòng mình tui tủi và mới biết mình nghèo. Anh không nghèo tiền nghèo bạc, mà anh thấy lòng mình trống trải, bâng khuâng. Có lẽ còn bao người khác cùng chung số phận như anh, chưa thoát khỏi ra cái vòng “Kim cô” luẩn quẩn kia. “Nước mắt anh tràn ra tắm  nỗi đau” và đang “chảy vào câu thơ bỏ ngỏ”. Anh đang “lặng im, lắng nghe tiếng tình yêu” thủ thỉ. Lắng nghe hơi thở của đời thường, không gian nhộn nhịp mà bình yên. Chúng tôi đang đợi những trang thơ đằm thắm, thiết tha như thế này của anh. Chúc anh viết hay hơn.





“THÁNG BA VỚI TÔI” LÀ NỖI BUỒN MAN MÁC                                              CỦA  NHÀ THƠ MINH HIỀN

          THÁNG BA VỚI TÔI                             

           Một mình, tháng ba ở lại bên tôi!
           Hoa Tigôn trước nhà đỏ hồng lên ba mảnh
           Xác hoa gạo bên đường dựng thành một cảnh
           Cánh rụng, đài rơi, thương lắm hoa ơi.

           Vẫn biết cạn ngày tôi cúi xuống nhặt chơi
           Cánh hoa nhạt nhòa trên tay tôi im như thóc
           Tháng ba âm u, mưa dầm dề như ai khóc
           Nặng trĩu triền sông hoa cải chẳng phất phơ.

           Trăng tháng ba như thực, như mơ
           Rẽ vào lối xưa, đâu thơm nồng hoa nhãn
           Mẹ ở nơi nào mà lạc bầy chim nhạn
           Thảng thốt bay rồi, thương lắm tháng ba ơi!

           Không gian này như thể chơi vơi
           Con tìm mẹ trong muôn vàn thương nhớ
          Nụ bòng bòng xanh xanh e ấp
          Cầu ao mùa này chẳng còn mẹ giữa tháng ba!
                                                     
                                                      Minh Hiền

   Lời bình:

    Trái đất mình thật đẹp, Việt Nam rất đẹp. Thiên nhiên đã ban tặng cho đất nước ta có bốn mùa : Xuân, hạ, thu, đông, mỗi mùa đều có sắc thái riêng của nó. Bốn mùa ấy đã đi sâu vào tâm thức của mỗi con người, các nghệ nhân cũng đã từng khắc họa lên những bức tranh bốn mùa ấy như: Tứ quí: Tùng, cúc, trúc, mai… Nữ sĩ Minh Hiền lại khắc họa lên một tháng ba rất đẹp, nhưng  phảng phất nỗi buồn man mác.
Ngay cái tên của bài thơ, nó đã mang một nét buồn riêng rồi, “Tháng ba với tôi”, hay tháng ba của riêng tôi, chắc tác giả có điều gì đó rất riêng... Tháng ba là tháng của cuối mùa xuân, nên với mọi người thì ít nhiều còn mang hương vị của mùa xuân lễ hội. Như nhà thơ N.T cũng đã viết về tháng ba, giọng thơ anh rất vui, nghe như mùa xuân đang phơi phới, mà còn ngan ngát thơm của tiết giao mùa :
            “Trong vườn xuân hoa tranh hạ cánh
            Góc sân nhà đã hết nắng hanh
            Chỉ còn thấy vương đầy hương bưởi  
            Hoa xoan bồng bềnh lớp lớp rơi”.
                                                  ( Tháng ba )
    Nhà thơ Minh Hiền đã vẽ một bức tranh tháng ba phảng phất một nỗi buồn  bằng  một  loài  hoa,  nghe tên loài hoa ấy người ta đã cảm thấy buồn rồi. Đó là hoa Tigôn, một loài hoa còn có tên là “hoa tim vỡ”, đây cũng là nghệ thuật của người cầm bút, bởi trong tiết tháng ba còn có rất nhiều các loài hoa, nhưng Minh Hiền lại chọn loài hoa này, thì thật là khéo léo:
           “Hoa Tigôn trước nhà đỏ hồng lên ba mảnh
    Chưa đủ, trong tháng ba của nhà thơ còn có hoa gạo, hoa cải. Hoa gạo thì không mang một nỗi buồn gì, nhưng cánh hoa rơi tơi tả trong thơ thì thật buồn:
          “Cánh rụng, đài rơi thương lắm hoa ơi!
           Vẫn biết cạn ngày tôi cúi xuống nhặt chơi
           Cánh hoa nhạt nhoà trên tay tôi im như thóc”.
    Cánh hoa đã rụng, cánh hoa còn nhạt nhoà, im lìm như thóc thì buồn lắm. Cánh hoa rụng là lẽ đương nhiên rồi, nhưng còn đài rơi, đài hoa đã rơi thì lấy đâu ra kết trái. Đó là cái rất logic của Minh Hiền để tạo nên một nỗi buồn trong thơ, một nỗi buồn êm êm, nhẹ nhàng man mác. Qua những từ “xác hoa”, “nhạt nhoà”, “im như thóc” đã chứng minh được điều đó. Thời tiết thay đổi là lẽ tất nhiên, trong tháng ba của Minh Hiền còn có cả mưa, và trăng :
 “Tháng ba âm u, mưa dầm dề như khóc
            Nặng trĩu triền sông, hoa cải chẳng phất phơ
 Trăng tháng ba như thực như mơ”
    Những giọt mưa rơi tí tách, những ngày mưa dầm dề đều tạo nên những cảnh buồn buồn. Hình ảnh hoa cải trong thơ của chị cũng vậy, im lặng như tờ không còn phất phơ bay như trước nữa, “nặng trĩu triền sông” hay nặng trĩu một nỗi buồn. Mưa buồn là vậy, hoa cải buồn là thế, còn trăng nữa, Minh Hiền lại đưa trăng vào tháng ba cũng là một nghệ thuật viết, vì tháng ba đâu phải mùa trăng, cho nên trăng trong thơ của chị cũng rất buồn, “như thực như mơ”, mờ mờ ảo ảo, đâu như trăng của Hàn Mặc Tử :
  “Ta hẵng đưa tay choàng trăng đã
            Mơ trăng ta lượm tơ trăng rơi”.
                                               (Say trăng )
     Trong cái tiết cuối xuân ít người viết thơ buồn như Minh Hiền, có lẽ trong tâm trạng nhà thơ có nhiều điều uẩn khúc, thơ của chị buồn man mác như nàng Kiều của Nguyễn Du trong tiết thanh minh :
  “Sè sè nấm đất bên đường
            Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”.
                                         (Truyện Kiều)
     Đọc đến đoạn cuối của bài thơ ta lại thấy xuất hiện hình ảnh chim nhạn, mà lại là chim lạc đàn tìm mẹ có lẽ    Minh Hiền đã  hé mở cho độc giả biết vì sao mà buồn:
 “Mẹ ở nơi nào mà sao lạc bầy chim nhạn
            Thảng thốt bay rồi, thương lắm tháng ba ơi!”     
    Chim nhạn bay về là báo hiệu mùa xuân tới, và khi chim nhạn gọi nhau bay đi cũng là lúc mùa xuân đã cạn. Đọc đến đoạn kết ta mới hiểu ra những nỗi buồn  ấy chính là thiếu vắng một người thân đó là mẹ :
          “Con tìm mẹ trong muôn vàn thương nhớ
           Nụ bòng bòng xanh xanh e ấp nở
        Cầu ao mùa này chẳng còn mẹ giữa tháng ba”. 
   Bài thơ “Tháng ba với tôi” đã được đăng tải trên tập san: Thi đàn thơ Trường Xuân tập 2. Lời thơ mượt mà đằm thắm thiết tha, giọng thơ rất con gái, mạch thơ liền không rời rạc, giầu hình ảnh, được chọn lọc. Bài thơ viết rất có kỹ thuật, cả bài thơ chị cứ tả cảnh, cảnh thật đẹp mà buồn, độc giả chưa hiểu được vì sao mà buồn, chỉ có hai câu kết cuối cùng ta mới vỡ lẽ ra nỗi buồn ấy chính là nhớ mẹ, thiếu vắng người thân. Đó là một thành công của người cầm bút. Chúc chị viết nhiều hơn, chúng tôi đang đợi những bài thơ hay hơn nữa.
                                    



MÙA HOA CẢI” HAY NGÃ RẼ CUỘC ĐỜI
           
       MÙA HOA CẢI

       Ai gieo vạt cải ven sông
Vàng hoa đợi ánh trăng trong bên cầu
      Sáng qua khăn áo chửa nhàu
Thoắt thôi, giờ đã ngấu màu vàng dưa!

      Ngọt ngào người hái sớm trưa
Trổ ngồng, xối xả dỗi mưa bão hờn
      Đất cày lên những thiệt hơn
Giờ trơ gốc lá, vàng hồn ngọn hoa
      Mải mê gieo khúc tình ca
Hạt mầm tức tưởi như là quặn đau

      Em ngây vụng dại thuở đầu
Rồi sương chan mắt đẫm mầu hoa ơi !
      Thẩn thơ nhặt nắng vàng rơi
Để ai quẩy mất một thời xuân xanh. 

                                       Minh Hiền


      Lời bình:  
    
     Thiên nhiên ưu đãi cho đất nước mình thật kì diệu, một năm có bốn mùa rõ rệt, mỗi mùa lại có sắc thái riêng của nó, có những loài hoa thật đẹp. Mỗi lần tết đến xuân về, trăm hoa đua nở, khoe sắc toả hương, hoa trong nhà, hoa ngoài ngõ, hoa trong vườn, hoa ngoài đồng. Trong tiết thanh minh tháng ba, quanh nhà còn đang vương đầy hương chanh hương bưởi, hoa xoan tim tím ngan ngát đưa hương rơi rụng bồng bềnh đầy lối ngõ, những dậu cúc tần len lúm vấn vít vàng rực  bờ ao, thì nhà thơ Minh Hiền lại thấy mầu vàng hoa của những vạt  cải đẹp đến nao lòng :
    “Ai gieo vạt cải ven sông
            Vàng hoa đợi ánh trăng trong bên cầu”
Tác giả đặt câu hỏi “Ai gieo vạt cải ven sông” có thể là sự sửng sốt trước cái đẹp của thiên nhiên, cũng có thể là sự ngậm ngùi cay đắng luyến tiếc một cái gì rất đẹp đã mất đi, hay một sự liên tưởng từ vạt cải đến số phận của một con người. Chị xây dựng hình tượng mầu vàng tươi tắn của hoa cải đợi “ánh trăng trong bên cầu” thật đẹp. hai mầu vàng ấy mà quyện vào nhau thì còn gì để nói. Phải chăng đây là hai tâm hồn còn đang trong sáng tươi trẻ hồn nhiên, căng tràn sức sống như muốn vươn lên, ngậm vào nhau để xây đài hạnh phúc. Nhưng cũng trớ trêu thay cuộc đời của mỗi con người, đâu phải lúc nào cũng  tuân theo ý nghĩ riêng của mình. Thời gian là một sự thay đổi khôn lường mới:
      “Sáng qua khăn áo chửa nhàu
 Thoắt thôi, giờ đã ngấu mầu vàng dưa!”
    Ta lại bắt gặp cái mầu vàng ở đây, không phải là mầu tươi vàng của hoa cải, ánh vàng của trăng, mà là mầu “ngấu vàng của dưa” một thứ đồ ăn được chế biến từ cây cải, sắp sửa bị nẫu ra khi đã “ngấu”. Đây là lối viết rất độc đáo của Minh Hiền, một sự so sánh tế nhị mà logic. Từ cây cải còn đang mơn mởn tươi xanh, ví như người con gái còn đang trong trắng trinh nguyên như “khăn áo chửa nhàu” phơi phới sức xuân, mà chỉ “thoắt thôi” đã trở thành một người đàn bà nát ngấu như dưa, dầm trong cái chát đắng của muối mặn cuộc đời. Cái hay ở đây là dưa lại bắt đầu từ cây cải. Cải biến thành dưa, hay con người đang yêu không được yêu, không được lấy người mình yêu, phải dứt tình để rẽ bước sang ngang, để rồi bị vùi dập. Đấy là chưa nói đến tình yêu đôi lứa là sự thổn thức của hai con tim, không trộn được vào nhau thì họ khổ đến nhường nào, có ai hiểu được nỗi lòng người đang yêu. Hình tượng cây cải biến thành dưa không phải dừng ở chỗ đắng cay chua xót trước một cuộc tình tan vỡ, mộng không thành của tình yêu đôi lứa. Nếu như các liền anh liền chị ở nơi kinh Bắc họ tự nguyện hy sinh tình yêu riêng tư của mình để đến với nghệ thuật hát quan họ, lại đi một nhẽ. Tác giả còn nói lên được cái hủ tục đầy mầu sắc phong kiến trút lên đầu người con gái, khi “cha mẹ đặt đâu  con ngồi đấy” Cũng có thể là sự “tức tưởi” vội vàng của các cô gái khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời. Vậy thì tứ thơ ở đây lại mang đầy tính nhân văn. Chị thông cảm cho số phận người phụ nữ như hạt mưa sa. Mười hai bến nước biết chọn bến nào, ví như số phận cây cải được định đoạt do tay người hái :
 “Ngọt ngào người hái sơm trưa
            Trổ ngồng, xối xả dỗi mưa bão hờn” 
   Câu thơ được tác giả đưa vào hướng ngoại, để diễn tả tâm trạng người con gái lúc bước vào đời. Cây cải được gieo trồng rồi trổ ngồng ra hoa nhưng không được kết hạt nhân giống. Cho dù bàn tay của người hái có “ngọt ngào” đến mấy, thì ngồng cải vẫn bị vùi dập đến “xối xả dỗi mưa bão hờn”. Sự hờn dỗi ấy là kết quả của cái thiếu chín chắn nông nổi dại khờ để rồi:
 “Đất cày lên những thiệt hơn
            Giờ trơ gốc lá vàng hồn ngọn hoa”
    Cuộc đời như những luống cải bị cày xới lật tung lên, xáo trộn, đau đớn, gốc rễ trơ ra, quằn quại để đến nỗi “vàng hồn ngọn hoa”. Cho dù cái vỏ bên ngoài đầy đủ sung túc nhưng tâm hồn thì vàng vọt, héo tàn. Mầu vàng ở đây nghe đến rợn người. Đâu còn thấy cái mầu vàng tươi mươi của hoa cải phất phơ trước gió, mà chỉ là cái úa tàn nham nhở của cuộc đời, rồi ân hận, xót xa hối tiếc:
                  “Mải mê gieo khúc tình ca
            Hạt mầm tức tưởi như là quặn đau”.
     Sự hối tiếc bao giờ cũng song hành với muộn màng, rồi dằn vặt vò xé tâm can. Lúc son trẻ thì “mải mê gieo khúc tình ca" . Gieo biết bao nhiêu mộng mị, ước mơ hoài bão, tương lai. Trước ngưỡng cửa cuộc đời, không riêng gì các cô gái như chim mới tập chuyền còn non nớt, dại khờ ngây thơ mà “tức tưởi” vội vàng  thì khó tránh khỏi được vập ngã. Từ hình ảnh cây cải, tác giả hướng ngoại xây dựng một hình tượng người con gái mới bước vào đời. Đến khổ cuối Minh Hiền lại hoàn toàn hướng nội dẫn người đọc đến nội dung cốt yếu của bài thơ, không còn là hình ảnh cây cải nữa, mà chính thực con người, một con người lầm bước thiếu tự tin, không bản lĩnh:
                 “Em ngây vụng dại thuở đầu
            Rồi sương chan mắt đẫm mầu hoa ơi!
 Thẫn thờ nhặt nắng vàng rơi
            Để ai quẩy mất một thời xuân xanh” 
     Chỉ vì một chút ngây thơ vụng dại mà đưa đẩy cuộc đời sang một bước ngoặt. cuộc đời gió mưa chan đầy nước mắt.
    Đọc thơ của Minh Hiền ta thấy chị có cách ghép từ thật tinh tế để câu thơ trở nên rất thơ, chuyển tải được nhiều hàm ý mà gọn gàng xúc tích. Ba từ : “ngây, vụng, dại” nếu ta tách ra đó chính là sự ngây thơ, vụng về, và dại khờ. Cách tu từ và nhân cách hóa của chị thật nhuần nhuyễn để câu thơ đã hay còn đẹp, dễ hiểu. Diễn tả người ta khóc, mà như “sương chan đẫm mắt”, những giọt lệ như những giọt sương. Trong thơ của Minh hiền còn có hoạ, đây chính là một bức tranh cô gái đang ngồi khóc thật đẹp. Cũng như Nguyễn Du tả nàng Kiều khóc khi gẩy đàn cho Kim Trọng nghe khúc: “Chiêu Quân cống Hồ” :
 “Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
            Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu”
                                            (Truyện Kiều)
    Bởi khi Kiều khóc thương nàng Chiêu Quân, thì nước mắt làm nhòa đi, nên nhìn ngọn đèn mờ ảo không còn tỏ nữa, và nước mắt được lau khô thì nàng Kiều nhìn ngọn đèn lại tỏ, quả là một tài thơ. Minh Hiền khóc cho những số phận không may mắn, trách mình rồi lại trách người. Nếu vững vàng, bản lĩnh, không xốc nổi, đừng dại khờ, đừng ngu ngơ thì ai có thể “quẩy mất một thời xuân xanh” của mình đi được.
    Với mười bốn câu lục bát khá nhuần nhuyễn, mượt mà đằm thắm thiết tha, da diết. Bài thơ giầu hình ảnh, ngôn từ chắt lọc, ý thơ đa chiều đa dạng, nhiều hàm ý, nhiều cung bậc, lời thơ réo rắt, khắc khoải, ai oán, lúc thăng lúc trầm như những nốt nhạc buồn. Câu thơ đã hay còn đẹp, cấu tứ chặt chẽ, bố cục mạch lạc, mở bài như pháo nổ, kết luận như chuông ngân. Nhà thơ Minh Hiền có cách nhìn sâu thẳm vào xã hội và con người, chị đã chia sẻ cùng độc giả, và cũng là lời cảnh tỉnh cho những cô gái đang đứng trước ngã rẽ, ngưỡng cửa cuộc đời. Đây cũng là điểm nhấn trong sự nghiệp văn chương của chị. Xin chúc chị nhiều thành công.










“BÓNG QUÊ” – NỖI NHỚ QUÊ DA DIẾT
               Của Minh Hiền

      Tháng mười phảng phất vào đông
Vàng hoe rang ngọn rơm đồng heo may.

     Thu về khe khẽ khẽ lao xao
  Chiều buông se lạnh ngậm vào heo may.

     Bến sông đó, con đò đây
Bãi dâu xưa để tơ nay rối bời.

     Đâu rồi cái tuổi nằm nôi?
  Ầu ơ tiếng mẹ ru tôi ấm nồng

     Ngụp chan! Cha vớt lũ giông
   Tràn đê con nước bập bồng bóng em.

    Nợ bà đỏ miếng trầu têm
  Ông đi buồn đến ngả nghiêng đông về.

     Mảnh trăng cong cả câu thề
         Trong mây diều trải bóng quê đẫy chiều.

   Lời bình :

     Trong mỗi chúng ta, ai cũng có một vùng quê thân thương, để khi đi xa mà thương mà nhớ. Một vùng đất có mùi sữa mẹ thơm thơm, có mồ mả tổ tiên ông bà, ông vải, có những kỷ niệm ngọt ngào của tuổi ấu thơ. Nhà thơ Đỗ Trung Quân anh nghĩ “Quê hương là chùm khế ngọt”, “Ai đi xa cũng nhớ nhiều”.Với Minh Hiền lại là một chuỗi những kỷ niệm đầy vơi, sâu sắc, từ cái rất gần đến cái xa xăm của tuổi ấu thơ. Cái gần nhất đối với chị là những ngày cuối năm , những lần sum họp trên quê hương mình:
“Tháng mười phảng phất vào đông
            Vàng hoe rang ngọn rơm đồng heo may”
     Tháng mười là tháng gặt hái thu lượm của người nông dân. Với Minh Hiền như phảng phất mùi thơm của rơm, màu vàng của thóc, cái hanh hao của gió heo may, cái nắng “vàng hoe” yếu ớt của tiết giao mùa cũng đủ “rang” khô cho rơm lên đống , cho thóc vào bồ. Từ thời điểm “Tháng mười phảng phất vào đông” chị lại ngược thời gian đến với mùa thu thật đẹp, mà dịu dàng:
  “Thu về khe khẽ lao xao
             Chiều buông se lạnh ngậm vào heo may”
Thu về thật êm ả, thật nhẹ nhàng, chỉ “khe khẽ lao xao” thôi. Tiếng gió lao xao hay tiếng lá rơi xào xạc? Có lẽ đây là tiếng thu rơi. “Chiều buông” xuống làm ta “se lạnh” hay lòng người “se lạnh”? Nhưng lại “ngậm vào heo may” thì thật là đẹp. Tôi còn nhớ một câu thơ của Việt Hồng đã viết :
            “Bình minh bừng thức dậy
            Cành liễu còn ngậm sương”
     Ngậm có nghĩa là không nhả, giữ lấy. Từ “ngậm” ở đây không có ý nghĩa hơn thiệt được thua, mà là một sự níu kéo giàng buộc liên kết với nhau. Cái “se lạnh” của tiết thu mà “ngậm vào heo may” thì còn có gì đẹp hơn thế, câu thơ đẹp như một bức tranh trìu tượng mùa thu. Cái liên kết ấy với tác giả còn nhiều day dứt:
                  “Bến sông còn đó, con đò còn đây
            Bãi dâu xưa để tơ nay rối bời”
     Bãi dâu, bến nước, con tằm là những thứ quên thuộc, thân thương gắn bó của nhiều miền quê. Đi xa, xa mãi chưa về, thì lòng người cũng rối bời như câu thơ của Minh Hiền. hình ảnh “ bãi dâu” và “” tằm thật đẹp, là tình cảm đầy vơi níu kéo, giàng buộc lẫn nhau, giữa quê hương đất nước với người xa xứ. Lúc sinh thời Nguyễn Du khi đi xứ, nhớ đến người yêu, nhớ quê hương còn gửi gắm tình cảm của mình vào trang Truyện Kiều :
   “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”
                                                         ( Truyện Kiều )
     Từ sợi tơ tằm còn làm vương vấn đến tình cảm của tác giả, nói gì đến những kỷ niệm thời ấu thơ, chị lục tìm trong ngân hàng ký ức để nghe lại tiếng ầu ơ của mẹ:
                  “Đâu rồi cái tuổi nằm nôi?
            Ầu ơ tiếng mẹ ru tôi ấm nồng”
     Tiếng mẹ ru hời, tiếng võng đưa kẽo kẹt đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi con người đất Việt. Mỗi khi nghe thấy lời ru, ta thường nhớ đến mẹ nhớ đến quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Minh Hiền nhớ đến “Ầu ơ tiếng mẹ ru tôi ấm nồng” thì không thể không nhớ đến cha, người đã sinh thành ra mình:
                  “Ngụp chan! Cha vớt lũ giông
            Tràn đê con nước ngập tràn bóng em
     Người cha thường là trụ cột của gia đình. Bao nhiêu những công  to việc lớn nặng nhọc, vất vả gian khó đều một tay người cha gánh vác. Kể cả những lúc “Ngụp chan! Cha vớt lũ giông” để mang lại sự yên ấm hạnh phúc của gia đình. Trong thơ Minh Hiền ta thường gặp những từ ghép chưa có trong từ điển tiếng Việt. nhưng vẫn chuyển tải được nội dung. Ở đây chị dùng từ “ Ngụp chan” nếu đứng một mình thì rất khó hiểu, đọc cả câu ta vẫn hiểu mà còn thấy hay nữa. Nếu ta tách ra thì từ “ngụp”đồng nghĩa với ngập, ta thường nói ngụp đầu, ngập đầu, ngập đầu ngập cổ. Còn từ “chan”, ta thường nói chan hòa; chứa chan; chan đầy, chan chan, chan đầy nước mắt... Vậy Minh Hiền cho ta thấy người cha của mình thật vất vả, phải ngập đầu, ngập cổ với những khó khăn gai góc, chống chèo cuộc sống “lũ giông”, mà cha còn “chan”  cả nước mắt nữa, bưng bát cơm mà ngập tràn nước mắt. Nghĩ về mẹ về cha là vậy, tác giả không quên nhắc đến ông bà:
 “Nợ bà đỏ miếng trầu têm
              Ông đi! Buồn cả ngả nghiêng đông về
     Nói đến nợ, trong mỗi con người chúng ta ai cũng mắc nợ. Nợ kinh tế, nợ tình cảm, nợ bạn bè, nợ tình yêu, nợ ông nợ bà, nợ cha nợ mẹ, nợ quê hương…Nợ nước. với Minh Hiền lại “Nợ bà một miếng trầu têm”. Chị “nợ bà một miếng trầu têm” hay chị nợ quê hương mình, người thân của mình. Nợ tiền thì trả được, nợ tình cảm thì thật là khó, thơ của chị như day dứt những món nợ đời. Theo qui luật của tạo hóa, lá vàng nào rồi cũng rơi về cội, chưa đến mức độ phải “ngả nghiêng”, chỉ là một nỗi buồn man mác, nhưng đây vẫn là tình cảm và tấm lòng của tác giả đối với người thân. Quê hương là hồn cốt của mối con người. Với Minh Hiền lại là một điều sâu lặng :
                  “Mảnh trăng cong cả câu thề
            Trong mây diều trải bóng quê đẫy chiều
     Mảnh trăng cong hay câu thề cong , câu thơ vừa hay vừa đẹp. Hình ảnh trăng là hình tượng của phái đẹp, mà câu thề bị uốn cong đi thì tác giả còn vương vấn , còn nợ quê hương nhiều lắm cho dù “cánh diều”của chị “trải bóng quê” đến “đẫy chiều” .
     Với mười bốn câu lục bát nhuần nhuyễn, tác giả cắt làm bẩy khổ, mỗi khổ chuyển tải một ý khác nhau. Cái khéo của tác giả là dẫn dắt người đọc từ cái cận đến cái viễn, rồi lại để độc giả nghĩ đến từ cái xa đến cái gần, như câu ca dao : 
                  “Trong đầm gì đẹp bằng sen
            Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
                  Nhụy vàng bông trắng lá xanh”
     Tác giả nào đó đã đưa độc giả thưởng thức từ bên ngoài là lá xanh, đến cái trong trắng thuần khiết là cánh hoa bông trắng, rồi mới tới cái tận cùng sâu thẳm tinh túy là nhụy vàng. Rồi từ nhụy ra ngoài tới lá xanh. Bài thơ tưởng như chưa có kết, bởi tình cảm của chị còn đang dàn trải, đã cho ta thấy tình cảm của chị hòa chung với tình cảm của độc giả, chị đã biến cái tôi của mình thành cái ta của mọi người. Đó là thành công trong sự nghiệp văn thơ của mình.

                                                                        Hà Nội - 10 - 10 – 2013          





MỘT CUỘC TÌNH ĐẸP QUA THI PHẨM
LẶNG LẼ CUỐI THU

Em lặng lẽ bên anh…
Trong nồng nàn hhoa sữa
Em đi tìm một miền đất hứa
Tìm một nơi chỉ có hai người…

Không ồn ào chỉ hoa sữa rơi rơi
Tìm một chút bình yên chim hót
Trời cuối thu hương cốm bay ngòn ngọt
Nhìn mắt nhau sao vẫn thấy cay nồng.

Cuộc đời này còn ý nghĩa gì không?
Sao đầy những bon chen đố kị
Nói với nhau những điều phi lí
Cho nhẹ lòng lấp khoảng trống mênh mông.

Thu qua rồi trời sắp sang đông
Qui luật tự nhiên nào ai cưỡng nổi
Trong lặng lẽ ngàn lời muốn nói
Chỉ hoa sữa thơm nồng nói hộ hai ta.

                                  Vũ Thị Minh Thu

    Lời bình:

      Tình yêu thật muôn sắc muôn mầu. Khi hai con tim đã cùng chung nhịp đập, hai tâm hồn đã lẫn vào nhau, thì cái gì cũng chộn rộn xốn xang. Tất cả hết thảy đều đẹp. Họ yêu nhau như khờ như dại, như mơ. Có người “Quá nửa cuộc đời vẫn chửa biết yêu / Mà chỉ được yêu trong vòng tay ân ái” (Lê Nghiêm). Nhưng khi đã biết yêu thì tình yêu mới thánh thiện làm sao. Họ “không chinh phục / không giành giật / không cầu mong / không ham muốn / cho dù là điều nhỏ nhất” (Lê Nghiêm). Có người “Lấy nhau thì lấy xong rồi mới yêu” (N.T), mà họ sống với nhau thật hạnh phúc đến trọn đời. Lại có người cùng trang lứa trinh trắng không yêu, đi yêu người đã có gia đinh để trở thành kẻ thứ ba, để rồi khổ đau, để rồi dằn vặt. Thật là rắc rối. Có lẽ chỉ có những cuộc tình dang dở không thành, họ chôn chặt tận đáy lòng, cứ thế… Cứ thế… Mới thật là đẹp.
    Trong “Lặng lẽ cuối thu” của Vũ Thị Minh Thu tác giả đã thêu dệt nên một cuộc tình đẹp như mơ, cuộc tình không thành, để suốt cuộc đời luôn nhớ đến nhau, tìm đến nhau để được cùng nhau đi “Trong nồng nàn hoa sữa”, tìm lại những kỉ niệm xưa, tìm lại “Một miền đất hứa”, nơi có những lời thề, “Không ồn ào hoa sữa rơi rơi” “một chốn bình yên chim hót”, rồi “Nhìn mắt nhau sao vẫn thấy cay nồng” , lặng lẽ bên nhau không nói nên lời. bởi những lời muốn nói ra biết đâu là những lời dằn vặt của con tim còn đang thổn thức, hoặc những lời trách khứa nhau để rồi càng thêm đau khổ. Họ có biết đâu khi đến được với nhau thành vợ thành chồng chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra. Bát đũa nào mà chẳng có lúc xô. Vợ chồng suốt đời không bao giờ bất hoà mới là chuyện lạ.
     Bài thơ “ Lặng lẽ cuối thu” Vũ Thị Minh Thu viết theo lối tự sự, chị như kể lại một một cuộc tình. Từ “Em” như một nhân vật trong truyện. “Em lặng lẽ bên anh”, chắc hẳn em còn yêu anh nhiều lắm, khi em đã có chồng. Người chồng lại không phải là cái mẫu của nhân vật “em”, bới :
             “Cuộc đời này còn ý nghĩa gì đâu ?
             Sao đầy những bon chen đố kị
     Cái “Khoảng trống mênh mông” là cái nuối tiếc, cái dằn vặt con tim của người luôn nhớ đến mối tình đầu. Nhưng  “Nói với nhau những lời phi lí”và những bức xúc, bon chen, những đố kị dù là của gia đình hay xã             Nói với nhau những lời phi lí
             Cho nhẹ lòng lấp khoảng trống mênh mông”.
hội thì làm sao mà cho “Cho nhẹ lòng”được. Câu thơ đọc qua tưởng như vô lí, bởi những điều tiêu cực kia chỉ có làm cho ta thêm khó chịu. Nhưng có ai hiểu được cái “khoảng trống mênh mông”đến vô tận của người đang yêu mà không được yêu. Vậy nên “Nói với nhau những điều phi lí” và những câu chuyện phiếm là để lấp đi cái “ Khoảng trống mênh mông”của người si tình đang còn tiếc nuối, lại làm cho vơi nhẹ lòng mình thì lại là có lí“Thu qua rồi” hay cuộc đời đã đến lúc xế chiều mà vẫn ấp ủ một mối tình. “Trời sắp lại sang đông” hay con người sắp về nơi thiên cổ. Câu thơ như lời an ủi bởi “Qui luật tự nhiên nào ai cưỡng nổi”. Họ lại đi bên nhau, có lẽ hai tâm hồn vẫn còn tươi trẻ lắm. “Trong lặng lẽ ngàn lời muốn nói / Chỉ hoa sữa thơm nồng nói hộ hai ta”rằng chưa bao giờ em hết yêu anh.
     Bài thơ có 4 khổ 16 câu viết theo thể tự do, không reo vẫn, mà ta vẫn thấy rất êm rất ngọt, bởi giọng thơ của Vũ Thị Minh Thu mượt mà giầu nhạc điệu, đây là yếu tố quan trọng của người cầm bút mà tác giả đã có được. cấu tứ chặt chẽ, thể thơ tự sự mà tránh được kể lể, những câu thơ chỉ để độc giả suy ngẫm, ngay tên bài thơ “Lặng lẽ cuối thu” cũng đã chứng minh được điều đó, lặng lẽ cuối mùa thu, hay lặng lẽ lúc tuổi đã cuối thu? Và cũng là “CÓ MỘT THỜI ĐỂ NHỚ” để thương.

                                               Hà Nội ngày 02 - 3 – 2014  




TIẾNG GỌI CON “MINH HIỀN ƠI!”
HAY TIẾNG LÒNG THỔN THỨC

MINH HIỀN ƠI!

                 Má thương con lắm Hiền ơi!
Bỗng dưng gió giật, đất trời đảo điên
      Con là con gái có duyên
Tài hoa chẳng kém, dịu hiền dễ thương
      Tưởng rằng mộng đẹp vấn vương
Ngờ đâu xã hội nhiễu nhương lan tràn
      Thôi con đừng rút ván sàn
Còn người còn lụy - nẻo đàngcòn phơi
      Coi như không gặp trên đời
Vô duyên một đoạn, nụ cười héo hon
      Để lòng thanh thản sớm hôm
Cứ vui con cháu, chẳng hờn giận ai
      Đời người ngắn lắm con ơi!
Vui câu lạc bộ thảnh thơi đánh cầu
      Tội người, người chất nặng đầu
Ra đi sẽ hối, qua cầu sẽ rơi
                   Đừng buồn nữa nhé! Hiền ơi!
Cứ vô tư, cứ nghỉ ngơi…Mặc người

                             Hoàng Hiệp 06h/21/10/2007     

     Lời bình:

     Dường như con người ta sinh ra đều có số phận, số phận như được an bài. Có những người suốt đời hưởng vinh hoa phú quý, có người cả đời long đong lận đận nghèo túng, có người “đứt gánh giữa đường” để nửa cuộc đời sống cô đơn hiu quạnh, lại có người kinh tế đầy đủ mà không đủ đầy, bởi trong lòng héo khô thui chột…Nhất là phận con gái mười hai bến nước, biết bến nào đục bến nào trong. Có người mẹ người cha nào sinh con ra, khi tác hợp thành thân cho con lại muốn con mình khổ hạnh. Tất cả họ đều muốn cho con mình được sung sướng, hạnh phúc, vui vẻ an nhàn. Nhưng trớ trêu thay, cái gọi là “số phận con người” lại thường không theo ý muốn con người. Và thế rồi phó thác mặc đời, hoặc rẽ ngang tìm bến mới, mà chắc gì bến mới đã hay hơn. Tạo hóa sinh ra như một mớ bong bong, mà có lẽ thế mới thành xã hội.
     Nhà thơ Hoàng Hiệp viết mười tám câu lục bát, là những tiếng kêu đứt ruột, dứt gan, ngay đề tài bài thơ bà đã thảm thiết gọi con “Minh Hiền ơi!”. Có người mẹ nào mà không xót xa đau đớn khi thấy con mình hoạn nạn. Thương con bà như nấc lên đau đớn :
                  “Má thương con lắm Hiền ơi!
            Bỗng dưng gió giật, đất trời đảo điên”
     Đất trời đảo điên, hay lòng bà điên đảo? Phải chăng đây là cú sốc lớn với con gái bà. Qua từ “Bỗng dưng” ta thấy hoàn cảnh xẩy ra không hề bình thường, một sự thay đổi đột ngột. Cái đột ngột ở đây lại là “Gió giật, đất trời đảo điên”. Cách dùng hình ảnh hướng ngoại của nhà thơ, làm cho độc giả nghĩ đến một sự tàn phá đến ghê gớm. Cái hay ở cách sử dụng ngôn ngữ trong thơ, khiến độc giả liên tưởng từ hướng ngoại đến hướng nội là sự đổ vỡ, rạn nứt của hạnh phúc gia đình, mà con gái bà đâu phải là con người hèn kém, hư đốn, đần độn gì cho cam:
                  “Con là con gái có duyên
            Tài hoa chẳng kém, dịu hiền dễ thương”
     Thành ngữ có câu “Nhìn lên thì chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình”. Con gái bà, bà nuôi bà biết, đâu phải tự nâng cao phẩm giá. Đây là bài thơ tả thực, tự sự theo chiều mặt phẳng, một trang nhật ký viết bằng thơ. Nhân vật Minh Hiền con gái bà ngoài đời quả là một cô gái có duyên, hào hoa phong nhã, dịu hiền, nết na, dễ thương dễ mến, dễ gần, đẹp người đẹp nết. Một cô gái được dậy dỗ trong một gia đình nề nếp gia phong, có đủ tứ đức“Công dung ngôn hạnh” của người con gái. Cô có chuyên môn giỏi trong nghiên cứu sinh học, được nhiều người yêu mến. Cô còn là một nhà thơ được nhiều người trong giới văn học ngưỡng mộ thế mà:
                  “Thân em như giếng giữa đàng
            Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”
                                                                 (Ca dao)
     Có lẽ Minh Hiền con gái bà là một trong những cô gái xấu số. Cô như cái giếng trong sạch, lẽ ra phải được nâng niu giữ gìn như một kho báu, thế mà còn có kẻ phàm phu tục tử chà đạp lên nhân phẩm cô một cách phũ phàng. Có ai biết được chữ ngờ, tạo hóa đã đặt bày. Nhà thơ Hoàng Hiệp cũng như bao bà mẹ khác, “Tưởng rằng mộng đẹp vấn vương”. Nhưng có “Ngờ đâu xã hội nhiễu nhương lan tràn”. Bà xót xa con gái bà, nhưng con gái bà cũng chỉ là một trong những nạn nhân của thời mở cửa. Với tư cách của một người mẹ đầy tính nhân văn bà vẫn khuyên con bà:
                  “Thôi con đừng rút ván sàn
            Còn người còn lụy - nẻo đàng còn phơi”.
     Hình ảnh “Rút ván sàn” bà khuyên con “đừng rút” đâu phải phó mặc cuộc đời buông trôi, con người bà thật phúc hậu, bà vẫn nghì rằng “Còn người còn lụy” và cái thật vẫn là sự thật cái gì đến nó sẽ đến, cái gì đi nó sẽ đi. Những kẻ bất nhân thất đức “Coi như không gặp trên đời”. Nói là vậy nhưng câu thơ khắc khoải như dao cứa vào lòng:
            “Vô duyên một đoạn, nụ cười héo hon”.
     Người mẹ nào đẻ con ra, nuôi con khôn lớn khi thấy con mình quằn quại mà không đau đớn xót thương. Tác giả tự trách mình một cách vô cớ, dằn vặt tâm can, lời thơ thổn thức như hối hận điều gì, chỉ “Vô duyên một đoạn” rồi để sợi tơ hồng thành mớ bòng bong, để “Nụ cười héo hon” méo mó với những ngày còn lại. Câu thơ dung dị như lòng mẹ, đầy tình nhân hậu che chở con mình, bà khẽ an ủi khuyên con:
            “Để lòng thanh thản sớm hôm
            Cứ vui con cháu chẳng hờn giận ai
                  Đời người ngắn lắm con ơi!
            Vui câu lạc bộ, thảnh thơi đánh cầu”.
     Đời con người ta sống có ích tính trung bình có sáu mươi năm. Cái gì mất đã mất cái gì còn vẫn còn, có những cái tồn tại không dùng được cũng cần coi như đồ phế thải :
            “Ta hãy giữ  những gì ta đang có
            Ta vứt đi những thứ không cần dùng”.
                                                   (Luân hồi N T)
     Hãy cứ sống vui, sống khỏe với con với cháu, chia sẻ buồn vui cùng bè bạn, chính là liều thuốc bổ thần tiên, và là khoảng trời riêng của mình. Những vần thơ cuối bài làm ấm lòng con gái mình, và cũng làm người đọc đỡ mủi lòng. Đoạn kết nhà thơ triết lý như một sự nhân quả:
            “Tội người - người chất nặng đầu
            Ra đi sẽ rối, qua cầu sẽ rơi”
     Tình thương của người mẹ thật bao la như biển cả, câu kết cuối cùng bà viết như vẫn sợ con mình khổ đau bà không quên nhắc lại lời khuyên nhủ con mình như một điệp khúc vang ngân trong tâm trí cô con gái yêu đáng thương của mình, bà lại gọi tên con  Minh Hiền lần nữa:
            “Đừng buồn nữa nhé! Hiền ơi!
                   Cứ vô tư, cứ nghỉ ngơi, mặc người”
     Câu thơ bị đứt đoạn bởi dấu chấm than (!) như  tắc nghẹn trong cổ rồi mới bật ra gọi “Hiền ơi!” , và dấm chấm lửng (…) như tiếng nấc trong lòng. Bà biết con mình khổ lắm, đau lắm nhưng biết làm sao. Nếu là gánh nặng mẹ đã gánh đỡ con rồi. Lời thơ như tự trách khứa chính mình “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Nếu con vui thì mẹ cũng nhẹ lòng. Nhưng những nỗi đau đã hằn sâu vào máu thịt, như chích vào tim gan, như giằng như xé. Mẹ biết, mẹ hiểu lắm. Mẹ còn cảm thông như hai người đàn bà với nhau, con vô tư làm sao được, con an lòng làm sao được. Vết thương lòng trong con như đang còn rỉ máu. Câu thơ an ủi con mà như cào cấu tâm can mình, day dứt ân hận một điều gì. Nhưng lại là an ủi chính mình.
     Mười tám câu lục bát là một trang nhật ký của nhà thơ Hoàng Hiệp có một cấu tứ bố cục chặt chẽ. Giọng thơ ngọt ngào, mộc mạc, dung dị mà đằm thắm thiết tha, da diết. gợi cảm, gợi thương đến gai người. Hai câu đầu bà mở bài như pháo nổ, như tiếng lòng người mẹ khóc con, rất ăn nhập với hai câu kết như những nốt nhạc âm vang dội vào lòng người. Tác giả trải lòng mình cho con, cho cháu, cho những người thân, cho nhân loại, cho độc giả thấy tình cảm của một người mẹ đang đau đớn nhìn con mình gặp nạn.Và đây cũng là tình cảm của những người mẹ Việt Nam, những người phụ nữ, với những đứa con thân yêu dứt ruột của mình đang đắm chìm trong bể khổ. Bài thơ là nốt chấm son trong sự nghiệp thơ văn của bà. Xin chúc bà mạnh khỏe và nhiều cảm xúc mới để có những thi phẩm mới, cho độc giả cùng chia sẻ

                                           Hà Nội ngày 02 / 9 / 2014




TA CÙNG NÍU GIỮ CÁI
“HƯƠNG MUỘN CUỐI MÙA” CỦA HỒNG VÂN

                    HƯƠNG MUỘN CUỐI MÙA
         
           Đường trần lạc sao vẫn đứng bơ vơ?
           Tôi ngơ ngác giữ màn đêm rơi rụng
Nhạc âm vang người ơi! Sao lúng túng?
Ảo vọng vu vơ mải quên nốt nhạc chờ.

Em sinh ra đâu có biết làm thơ
Mình một lối đưa ta vào dòng chảy
Nét trời sinh phận số là như vậy
Giữ được hay chăng? Hương muộn cuối mùa.

Vương tóc thề, ngọt lịm chút hương đưa
Cố tìm lại con đường xưa vương kỷ niệm
Liễu buông rèm, cánh bằng lăng rắc tím
Giữa muôn trùng lặng lẽ ánh sao rơi.

                                                       Hồng Vân 

      Lời bình

          Cuộc đời của mỗi con người, ai mà không có lúc buồn vui thăng trầm. Thi phẩm “Hương muộn cuối mùa” với  12 câu thơ, được chia làm 3 khổ, viết theo thể tự do vần liền chuẩn mực. Hồng Vân chị đã gửi gắm tâm sự của mình để chia sẻ cùng độc giả. Đây là bài thơ mang hơi thở buồn buồn nhưng có sức vươn lên trong cuộc sống.
          Khổ đầu là tâm trạng hẫng hụt như đã mất đi cái gì đó lớn lao làm lòng người ngơ ngác, bâng khuâng, lạc lõng, trầm tư. Thiếu đi sự tập trung, nốt “nhạc chờ” vang lên của đầu dây bên kia cũng làm chị lúng túng , hay chỉ vì những “ảo vọng vu vơ” tâm tư như bị xáo trộn: 
“Đường trần lạc sao vẫn đứng bơ vơ?
                   Tôi ngơ ngác giữa màn đêm rơi rụng
Nhạc âm vang người ơi sao lúng túng?
Ảo vọng vu vơ mải quên nốt nhạc chờ”.
          “Đường trần lạc” hay cuộc đời lạc lõng đơn côi bơ vơ, hay cuộc đời phong trần làm chị lạc lối đi về, trước sự mất mát đau thương, bi ai khổ lụy. “Màn đêm rơi rụng” chính là cái con người ta không níu lại được, nó trôi đi như thời gian không bao giờ trở lại, như một sự hoang tàn đổ vỡ. Hình ảnh “màn đêm rơi rụng” cũng chính là bóng tối đã ập đến. Nếu không vững vàng con người ta có thể đi đến chỗ hoang tưởng rồi sụp đổ. Cuộc đời là vậy, cái gì đi cứ đi, cái gì đến cứ đến. Có ai biết trước được cuộc đời mình rồi sẽ ra sao. Cuộc đời đưa đẩy, đẩy đưa theo con tạo xoay vần. Cũng như Hồng Vân chị biết đâu mình lại trở thành một người thơ:
            “Em sinh ra đâu có biết làm thơ
  Mình một lối đưa ta vào dòng chảy”.
Thực tế đã có không ít người trở thành nhà thơ bởi trong tâm hồn họ chứa chất nhiều điều uẩn khúc, gai góc trái ngang. Họ âm thầm không nói ra được, tất cả đã gửi gắm vào những trang thơ. Nhất là trong thời kỳ thế kỷ XX và XXI, nền văn học Việt Nam lại bùng nổ về thơ. Các địa phương từ xã tới phường, từ nông thôn tới thành phố, từ miền xuôi đến miền ngược đều có những câu lạc bộ thơ ca. Đó chính là “dòng chảy”  đã cuốn cuộc đời Hồng Vân. Những sân chơi ấy đã biến chị trở thành người cầm bút. Đây cũng chính là “Hương muộn cuối mùa”, những tinh hoa của ngôn ngữ, những vốn sống  được chắt lọc từ vị đời trong cuộc đời chị, sau những gì mất mát tưởng như gục ngã, khi quỹ thời gian còn ít ỏi của tác giả. Đôi lúc chị hồi tưởng lại cái quá khứ đẹp đẽ của tuổi thanh xuân “Vương tóc thề, ngọt lịm chút hương đưa” và chị cố lục trong ngân hàng ký ức để “tìm lại con đường xưa vương kỷ niệm”. Cái gì đi đã đi, cái gì đến đã đến nhưng tác giả vẫn không quên:
            “Liễu buông rèm, cánh bằng lăng rắc tím
 Giữa muôn trùng lặng lẽ ánh sao rơi”.
          Hình ảnh “Liễu buông rèm” thật đẹp nó gợi tả một không gian thơ mộng, như cụ Nguyễn Du đã tả trong truyện Kiều:
            “Lơ thơ tơ liễu buông mành
  Con oanh học nói trên cành mỉa mai”
                                                     (Truyện Kiều)
      Hình ảnh đẹp làm cho câu thơ đẹp, những “cánh bằng lăng rắc tím” nói lên mối tình chung thủy khó phai mờ của tác giả Hồng Vân , và cũng không bao giờ quên được những đớn đau như  “ánh sao rơi” lặng lẽ giữa muôn trùng vũ trụ bao la.
          Bài thơ chị viết với giọng trầm buồn, có hậu, giàu hình ảnh gợi cảm, với thủ pháp nghệ thuật cao, ý tại ngôn ngoại, bắt người đọc phải suy ngẫm, đa chiều đa dạng, ngay đề tài bài thơ “Hương muộn cuối mùacũng đã rất ảo. “Hương muộn” cũng chính là cái thăng hoa của cuộc đời chị lúc tuổi đã xế chiều. Bài thơ viết theo thể tự sự mà không vướng phải lỗi kể lể. Cấu tứ chặt chẽ mà chưa chặt chẽ, nếu như khổ thứ 2 mà đưa xuống làm khổ kết (khổ 3) thì rất hay. Dù sao chăng nữa đay cũng là bước tiến vượt rào trong sự nghiệp thơ văn của chị.Chúc chị hạnh phúc. Chúng tôi đang đón đợi những thi phẩm hay hơn nữa

                                                                            Hà Nội ngày 08 - 9 - 2014
                                          



TA HÃY XEM NỖI LO LẮNG TRĂN TRỞ CỦA
NỮ SĨ MINH HIỀN QUA BÀI THƠ “LỆCH”

      LỆCH
         
      Sợ rằng đêm vẫn khoác đen
Sợ ngày nắng rát, để duyên cạn mùa
      Sợ mưa bong bóng cứ đùa
Sợ hồn giông bão cứ ùa vào tôi
      Lệch mùa trăng sẻ làm đôi
Lệch anh em thả thơ trôi cho bằng.

Lời bình

          Trong dân gian mọi người thường nói “Thế gian được vợ hỏng chồng / Mả táng hàm rồng mới được cả đôi” . Đó là sự triết lý của ông cha ta từ bao đời nay, tất cả mọi việc trên đời, ít có sự hoàn hảo, mà hoàn hảo đến tuyệt đối lại càng khó. Chỉ sáu câu lục bát  nhà thơ Minh Hiền đã khắc họa nên điều đó. Cũng giống như câu ca dao:“Bây giờ chồng thấp vợ cao / Như đôi đũa lệch so sao cho bằng”. Đó chính là cái lệch nhau trong cuộc sống. cũng chính vì thế nên tác giả sợ nhiều điều:
                  “Sợ rằng đêm vẫn khoác đen
            Sợ ngày bỏng rát, để duyên cạn mùa”
          Nhà thơ sợ “đêm vẫn khoác đen” hay sợ cái bóng tối cứ bao trùm mãi cuộc đời. Những đau thương, mất mát khổ đau, những dằn vặt, cô đơn... Cứ đeo đẳng theo suốt cuộc đời. Ở đây ta được thấy tác giả dùng phép tu từ thật độc đáo, từ “đêm” có nghĩa là tối, mà đã tối thì phải “đen”. Từ “đen” đồng nghĩa với tối, mà đã tối tức là “đêm”. Đọc câu thơ ta thấy cái thi vị của thơ , ta thấy giá trị của ngôn ngữ trong thơ, ta thấy yêu thơ hơn. Câu thơ nó hay ở chỗ “đêm vẫn khoác đen”. Đã đêm rồi, đã tối tăm rồi, đã đen rồi còn khoác thêm đen. Thử hỏi cuộc đời đen tối, khổ hạnh đến bao giờ mới nhìn ra ánh sáng. Từ “khoác” ở đây thật thú vị, “khoác” gần đồng nghĩa với trùm, cuộc đời đã tăm tối còn trùm thêm đen bạc thì khổ sở biết chừng nào. Đấy là Minh Hiền sợ cái bóng đêm dài dằng dặc. Còn ngày thì sao, ta hãy xem sự lo lắng của chị:“Sợ ngày nắng rát, để duyên cạn mùa”. Cái sợ “Ngày nắng rát” của chị cũng như Tố Hữu đã viết:
                  “Ngột làm sao, chết uất thôi
             Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”
                                               (Khi con tu hú).
      Tiếng chim tu hú kêu hay tiếng than vãn của con người. Đêm thì sợ kéo dài lê thê, ngày thì sợ nắng chói trang bỏng rát như quất vào da thịt. Hoàn cảnh thật trớ trêu, nó ngột ngạt u uất,“để duyên cạn mùa”. Từ “duyên” đã lý giải cho câu thơ. Không phải cuộc sống éo le vất vả, mà là một cuộc tình trái ngang, chật chội. “Duyên cạn mùa” hay tình yêu đã dần dần héo hon thui chột. Bát nước đầy lỡ đổ vớt lại không? Chưa hết tác giả vẫn còn:
                  “ Sợ mưa bong bóng cứ đùa
             Sợ giông hờn gió cứ ùa vào tôi”.
      Nói đến hình ảnh “mưa bong bóng” người ta thường liên tưởng đến sự đổ vỡ chia ly, cách trở:
                  “Trời mưa bong bóng phập phồng
                      Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?”
                                                            (Ca dao).
      Tình yêu mong manh, mơ hồ như những quả bong bóng giữa trời mưa, phồng to lên rồi lại vỡ đi, cứ thế, cứ thế... Như giỡn đùa với số phận, nó cũng sẽ tan như bong bóng xà phòng, tan như bong bóng trời mưa. Và chẳng bao giờ phồng lên được, thế là hết. Điệp từ “sợ” được lập lại tới bốn lần, tác giả đã khái quát được nỗi lo lắng trăn trở trước cuộc đời. Lần cuối cùng tác giả “sợ giông hờn gió” . Sợ sự vùi dập, sợ sự tàn phá, sợ cái gì sắp đổ vỡ, hoang tàn, cô đơn, hiu hắt Bốn câu lục bát liên tục đối nhau: “Đêm” đối với “ngày”, “nắng” đối với “mưa”, “mưa” đối với “giông, gió” càng làm tăng sự lo lắng, dằn vặt, như những đợt sóng cứ nối tiếp nhau lớp lớp chồm lên nhấn chìm đi cái gọi là hạnh phúc. Đây cũng chính là thủ pháp độc đáo sử dụng cách tiểu đối trong thơ của Minh Hiền. những cái “sợ” của tác giả, đã mô phỏng, chính là từ những cái “lệch” trong cuộc sống:
                  “Lệch mùa trăng sẻ làm đôi
            Lệch anh em thả thơ trôi cho bằng”.
      Một sự so sánh thật thú vị mà lãng mạn, cái “lệch” của tình yêu đôi lứa lại ví như “lệch mùa trăng”. Ai cũng biết mùa trăng là mùa thu, trời trong xanh leo lẻo, nên ánh trăng lại càng sáng như cụ Nguyễn Khuyến đã vịnh:
            “ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
            Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
            Nước biếc trông như tầng khói phủ
            Song thưa để mặc bóng trăng vào”
                                                (Thu vịnh)
      Mùa trăng đẹp là vậy. Mùa trăng cũng là mùa cưới, mùa xây tổ ấm của những đôi uyên ương. “Hoa cúc vàng bắt đầu mùa cưới đó / Nắng hanh hanh cho má em ửng đỏ / Gió heo về mang hương vị tình yêu” (Chuyện chúng Mình của N.T), mà lệch mùa thì thật là buồn. nó tạo nên sự huyền ảo mơ hồ, nhạt nhẽo. cái “lệch mùa” ấy Hàn Mặc Tử cũng đã viết:
            “Ánh trăng mỏng quá không che nổi
            Những vẻ xanh xao của mặt hồ”
                                                               (Huyền ảo)
      Trăng trong thơ của Minh Hiền đã “lệch mùa”  lại bị sẻ làm đôi thì buồn quá. Có phải chăng đây là sự đổ vỡ của những cuộc tình ngang trái. Vậy nên chị sợ “ đêm vẫn khoác đen”  là đúng thôi . Khi đã lệch, ai cũng muốn kê cho bằng. Sự tha thứ, lòng vị tha, tính nhân văn trong mỗi con người lại là điều cần thiết. Nhưng tác giả lại gửi hồn mình vào thơ, chị chắp cánh cho thơ bay trong gió, chị “ thả thơ trôi cho bằng” . Tính hiện thực trong thơ của Minh Hiền đã được lý giải, bởi không ít trong thực tế đã minh chứng. Những sân chơi đã ít nhiều kéo lại sự thăng bằng trong cuộc sống.
      Với bốn mươi hai từ Minh Hiền ghép thành sáu câu lục bát, như đã giãi bày tình cảm, chia sẻ với độc giả bằng cách nén câu, nén chữ, ngắn gọn mà đầy đủ, súc tích. Giàu hình ảnh, trìu tượng mà cụ thể, ảo mà thật, dễ hiểu . Những thủ pháp tu từ, tiểu đối, so sánh, cách dùng điệp từ biểu cảm. Chị đã như dựng lại những tình cảm, của những cuộc tình có thật trong đời thường, như lời cảnh báo, răn đe. .Có thể nói rằng: Sáu câu lục bát của chị, là sáu câu thơ tài hoa. Bởi nếu ta chỉ đọc riêng từng câu, một mình nó cũng đã tỏa sáng, đủ nghĩa, và chuyển tải được đầy đủ nội dung của câu thơ, như những lời triết lý (bốn cái “sợ” hai cái “lệch”). Chúng tôi được biết gần đây Minh Hiền viết rất sung sức và chắc tay. Chúc chị khỏe mạnh, giàu cảm xúc để có những tác phẩm hay hơn.

                                                                             Hà Nội 16 - 10 – 2014
                                                        

\


TẤM LÒNG HIẾU THẢO CỦA MỘT NGƯỜI CON  qua bài thơ VIẾNG THĂM MỘ MẸ của nữ sĩ NGUYỄN HƯƠNG LIÊN

           VIẾNG THĂM MỘ MẸ

Chiều nay con về thăm mộ mẹ
Thắp nén hương thơm ngát không gian
Cỏ bao quanh khu mộ héo tàn
Đông buông rủ một mầu u ám.

Nỗi lòng con cũng buồn theo năm tháng
Con mất mẹ rồi, vĩnh viễn mẹ ơi!
Khói hương thơm đã nói thay lời
Con nhớ mẹ muôn đời vẫn thế.

Con ước ao trong mơ gặp mẹ
Mẹ cười hiền âu yếm bên con
Chao ơi! Trong cõi linh thiêng
Ước gì có mẹ đến bên con ngồi.

Ngoài năm mươi tuổi đấy thôi
Vẫn còn thèm mẹ trên đời biết bao
Tình mẹ như những vì sao
Sáng trong trời đất soi vào tim con.

Mẹ nằm đây giữa quê hương
Nhưng hồn mẹ vẫn theo con dặm đường
Khói hương tỏa khoảng trời thiêng
Cúi đầu tạ mẹ lên đường con đi

                                    Nguyễn Hương Liên

   Lời bình

   Cầm trên tay tập thơ TÌNH THƯƠNG VÀ NỖI NHỚ khi đọc đến bài “Viếng thăm mộ mẹ” tôi thật sự bồi hồi xúc động trước tấm lòng hiếu thảo của nữ sĩ Nguyễn Hương Liên. Là người con, ai mà quên được công ơn sinh thành của cha mẹ, nhất là người mẹ đã chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau, dứt ruột sinh ra mình. Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ, mẹ là người luôn dành những tình cảm yêu thương nhất cho con, chỗ ráo nhường con, chỗ ướt mẹ nằm. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể. Hạnh phúc lớn nhất của mỗi con người chưa chắc đã phải là địa vị, hay giàu sang phú quý, mà chính là có mẹ và còn mẹ. Bởi mẹ là quê hương, mẹ là đất nước. Những ai không còn mẹ, quả là thiệt thòi và là tổn thất lớn lao nhất. Nhà thơ Nguyễn Đình Vinh đã viết:
            “Một nén hương thơm nồng nàn lặng lẽ
                     Nỗi lòng con gửi gắm những niềm thương
                     Dù bao năm dù có hóa vô thường
                     Công sinh dưỡng vẫn là công lớn nhất”.
                                                      (Bông hồng vàng)
          Nhà thơ Nguyễn Hương Liên với tấm lòng hiếu thảo của mình trước lúc đi xa, cũng như khi trở về quê hương, không bao giờ quên đến trước phần mộ mẹ mình thắp những nén nhang thơm thảo kính dâng lên mẹ:
  Chiều nay con về thăm mộ mẹ
  Thắp nén hương thơm ngát không gian
  Cỏ bao quanh khu mộ héo tàn
  Đông buông rủ một mầu u ám.
          Nén nhang của chị vặn xoắn thơm ngát không gian, chị như cảm thấy linh hồn mẹ được mát mẻ, đang về che chở cho chị. Chị xót xa thấy cỏ quanh khu mộ héo tàn, hay chính lòng chị đang héo hon khi không còn mẹ. Câu thơ giản dị mà như cứa vào lòng người đọc. Chị viết cho chị hay chị viết chung cho những người đang chịu thiệt thòi như chị. Chị chia sẻ cùng mọi người, chị cảm thấy mùa đông buông rủ một mầu u ám. Khổ thơ đầu chị viết theo thể vần liền, nhạc điệu trầm buồn man mác, khiến độc giả cũng thấy buồn lây. Chỉ riêng câu kết của khổ đầu ta cũng đã thấy đầy màu sắc của nghĩa địa ảm đạm, u ám làm sao. Quả như Nguyễn Du viết “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nỗi buồn của chị dài theo năm tháng, trước phần mộ mẹ mình chị khóc, câu thơ như nấc lên, chị nghẹn lời đành nhờ khói nhang nói hộ:                                              
“Nỗi lòng con cũng buồn theo năm tháng
Con mất mẹ rồi, vĩnh viễn mẹ ơi!
Khói hương thơm đã nói thay lời
Con nhớ mẹ muôn đời vẫn thế”.
Một đời người có bao nhiêu sự mất còn, ta đã mất gì, ta còn gì. Không nỗi đau nào bằng mất mẹ, mẹ ra đi là mẹ  mang đi cả lời ru ngọt ngào bên cánh võng, nhưng tình thương vẫn da diết bên con. Những vẫn thơ chân chất mộc mạc, không hoa mỹ, dễ hiểu mà như sói vào vào lòng độc giả, bởi ai sinh ra mà không có cha có mẹ. Lời thơ của chị như tiếng khóc nấc lên, “con mất mẹ thật rồi, vĩnh viễn mẹ ơi!”. Các thi sĩ thường hay viết ảo (ý tại ngôn ngoại) đánh bóng ngôn từ để cho câu chữ của mình “thật thơ, rất thơ”, nhưng chắc gì đã hay hơn những ngôn ngữ đời thường mà gây được cảm súc cho người đọc. chính Nguyễn Hương Liên lại làm được điều này, chị khóc bằng thơ, những câu thơ giản dị làm người đọc cũng hoen mi. Nhà thơ Hoàng Cửu Long cũng đã khóc mẹ như thế:
            “Mẹ yêu ơi! Đã xa rồi trần thế
                    Cõi hồng trần lòng con lạnh tái tê
                    Trong cơn mê mẹ âu yếm vỗ về
                    Vẫn nụ cười sưởi lòng con ấm áp” 
                                           (Nhớ mẹ Lý mồ côi)    
          Tấm lòng hiếu thảo của tác giả thật đáng trân trọng và khâm phục. Mỗi khi đi xa về gần chị không quên tới viếng thăm mộ mẹ. Chị như muốn níu kéo một điều gì, dường như mẹ với chị là tất cả, mất mẹ là mất tất cả Qua thơ của chị ta mới thấy hết được tình cảm sâu nặng của chị:
            “Mẹ nằm đây giữa quê hương
  Nhưng hồn mẹ vẫn theo con dặm đường
  Khói hương tỏa khoảng trời thiêng
  Cúi đầu tạ mẹ lên đường con đi”.
          Nữ sĩ chào mẹ khi lên đường, nén nhang thơm cầu cho mẹ mồ yên mả đẹp, nhưng vẫn thầm mong linh hồn mẹ theo con trên mọi nẻo đường, chở che cho con, dẫn dắt con đi bằng những vần thơ lưu luyến đằm thám thiết tha
Ngoài năm mươi tuổi, đã là mẹ, đã bà mà tác giả vẫn thèm mẹ như đứa trẻ thơ:
  “Ngoài năm mươi tuổi đấy thôi
            Vẫn còn thèm mẹ trên đời biết bao
 Tình mẹ như những vì sao
 Sáng trong trời đất soi vào tim con”.
          Vẫn lối viết tự sự mà không rơi vào cái khuyết tật kể lể, tác giả chia sẻ nỗi lòng mình, như con trẻ chị vẫn thèm mẹ trên đời biết bao. Ở đây ta bắt gặp từ “thèm” mới thật thú vị, nó gợi lên cái tình cảm ngọt ngào ấm áp của tình mẫu tử, “Con yêu mẹ con xà vào lòng mẹ / Để suốt đời con được chở che” (Lê Nghiêm). Với mẹ bao giờ con cũng bé bỏng, cũng còn trẻ thơ. Mẹ là tất cả, như những vì sao / Sáng trong trời đất soi vào tim con.

          Bài thơ được tác giả cắt làm 5 khổ, Nguyễn Hương Liên viết theo chiều mặt phẳng, chị nghĩ gì viết lấy theo mạch cảm xúc của mình, mà vẫn gợi cảm. Đây là cách viết rất khó, bởi dễ viết nhưng rất khó hay, nhưng chị đã thổi hồn mình vào thơ, gây được cảm xúc cho người đọc, đây chính thành công của người cầm bút. Bài thơ bố cục chặt chẽ nhưng chưa được mạch lạc, nếu như khổ thứ 4 mà chị đẩy xuống làm khổ kết thì mới logic, và ăn nhập với chủ đề, vì đây là bài thơ tự sự kể lại tình cảm của mình từ lúc trẻ cho đến lúc đã ngoài năm mươi tuổi. Chúc chị thành đạt trong sự nghiệp văn chương.